dangthieuquang

Vua xứ mù 20

In Uncategorized on Tháng Hai 6, 2013 at 3:31 chiều

 

Toàn bộ cảnh vật kinh thành hiện dưới tầm mắt chúng tôi, dưới những đôi cánh đại bàng. Chuyến thị sát của tôi bắt đầu theo vòng trôn ốc, khi những chú chim ưng khổng lồ này đã lấy được độ cao, chúng thôi vẫy cánh và chỉ giang rộng lượn lờ, cân bằng và ổn định tuyệt vời, dường như chúng lợi dụng những luồng khí nóng ấm đang tỏa lên, nâng chúng tôi gần như đứng yên giữa không gian bao la, thỏa thích ngắm phong cảnh bên dưới, nơi mà vô vàn các hoạt động nhộn nhịp đang bắt đầu diễn ra. Chợ búa buôn bán, nông dân ra đồng, lên nương. Các công xưởng tỏa khói luyện kim, những thao trường tập đội hình đội ngũ, binh lính xếp thành những khối vuông, dàn hàng ngang hàng dọc, chạy túa ra thành trận đồ bát quái. Xa xa, những tiếng lụp bụp vọng lên nhỏ xíu, chính là những khai trường phá đá bằng thuốc nổ tự tạo, đá sẽ được gia công tại chỗ phục vụ xây dựng, đường xá. Những con sông con suối uốn lượn bé tẹo, còn những đỉnh núi thì lại rất gần, nơi mà những con chim ưng nhỏ bé khác vẫn ưa thích làm tổ. Nhìn thấy thần ưng, tất cả lũ ưng thường kia lập tức thu cánh trốn vào trong hốc đá, ngó nghiêng sợ hãi. Bằng những cử chỉ ám hiệu, các phụ tá bay song hành cùng tôi thay nhau báo cáo những hoạt động đang diễn ra mà họ có trách nhiệm theo dõi, quan sát. Mọi việc đều tiến triển tốt, không có trục trặc nào đáng kể.

 

Từ trên cao, cái nhìn của chúng ta sẽ toàn diện hơn, hẳn rồi, và toàn bộ kinh thành kia, nó đẹp đẽ xinh xắn như một cái sa bàn tinh xảo, sống động. Vậy thôi, nó đúng như những gì mà một kiến trúc sư trưởng mong đợi. Công việc tạm ổn, tôi bỗng muốn giải trí và mạo hiểm đôi chút.

 

Đua nhé, tôi làm cử chỉ ra hiệu, tất cả đám tùy tùng và bầy thần ưng đều hiểu thứ ngôn ngữ vui vẻ này. Đám tùy tùng nhe răng ra cười sung sướng, và bầy chim ưng khổng lồ ngoác mỏ phát ra những tiếng kêu chói tai đầy phấn khích, chúng đột ngột xếp cánh lao vút xuống như những mũi tên, nối đuôi nhau trong cuộc rượt đuổi tốc độ bất tận, luồn lách qua những khe núi dựng đứng. Tôi nắm chặt dây cương, rạp mình vào cổ chú thần ưng thông minh và nhanh nhẹn của mình, nó luôn cố làm tôi hài lòng với những màn trình diễn kỳ ảo và táo bạo. Đang hạ độ cao chóng mặt, nó bỗng giương cánh ra đảo mình liệng lách qua những khe suối hẹp, hòng cắt đuôi đám tùy tùng phía sau, nó luôn dẫn đầu và biết rõ vị thế của chủ, nó không bao giờ cho phép con thần ưng nào qua mặt, bởi nó là số 1, giống như tôi vậy. Ngay khi vừa sà xuống sát chân núi, nó bay sát mặt hồ nước mênh mông, đến mức cảm giác như nó chính là một chiếc thủy phi cơ uy lực vậy, để lại sau đuôi những bụi nước do áp suất không khí, thành một vệt dài trên sóng. Chẳng có một chú thần ưng nào sau đuôi có thể làm nổi những kỹ thuật siêu đẳng như thế, chúng bay sau ở tầm cao hơn, phát ra những tiếng kêu ngưỡng mộ thuần phục, vang động cả mặt hồ. Thế rồi, trong chớp mắt, chú thần ưng này vỗ cánh, nó lại vọt lên như tên bắn về phía mặt trời mọc, hòng làm lóa mắt những kẻ bám đuôi, cái chiêu này vô cùng bất ngờ, và ngẫu hứng, lại khôn ngoan không thể hiểu nổi. Có lẽ nó cảm nhận được những điều mà tôi mong muốn ở nó, qua cái cách mà tôi tiếp xúc vào nó, hai linh hồn cùng giao cảm, hòa làm một, tràn đầy sáng tạo. Chỉ một tích tắc đạt độ cao, nó lại nghiêng cánh chao mình xoắn ốc, để rồi thực hiện một cú bay lộn ngược ngoạn mục về phía bầu trời. Cái chiêu này khiến tất cả phi hành đoàn phía sau hoàn toàn bất ngờ, chúng vẫn cứ tiếp tục lao về phía mặt trời mọc, mà không biết rằng chiếc phi cơ dẫn đầu đã vọt tít lên cao rồi vòng về phía sau, ở ngay trên đầu chúng. Mắt thần ưng cực kỳ tinh tường, chúng có thể nhìn thấy rõ một con chuột đồng ở bên dưới cách xa vài cây số. Thế nhưng, chúng lại hoàn toàn chẳng nhìn thấy gì ở phía bên trên, bởi chúng đã quá quen với việc muôn loài luôn ở dưới tầm mắt chúng.

 

Chỉ có thần ưng của tôi hiểu rằng, tôi còn ở cao hơn tất thảy, và nó đã thực hiện đúng những gì mà tôi mong muốn ở nó. Tôi vỗ vỗ vào cổ nó khen ngợi, cũng đồng nghĩa với việc lát nữa quay trở về thao trường, cái sân bay dã chiến đó, tôi sẽ thưởng cho nó những tảng thịt bê tươi rói. Muốn phi cơ bay tốt, bạn phải liên tục nạp xăng chứ! Tất cả những loài lông vũ máu nóng đều tiêu hao cực nhiều năng lượng, quả tim chúng là những chiếc bơm công suất lớn, một số loài có quả tim có thể đạt 1200 lần/phút, nghĩa là 20 lần trong một giây, gần bằng tốc độ hình ảnh lướt qua trong một giây ở cuốn phim tiêu chuẩn 24 hình/giây mà ta vẫn đến rạp xem hàng ngày.

 

Loài thần ưng của chúng tôi vô cùng to lớn. Trái tim chúng đập chậm hơn, điềm tĩnh hơn, nhưng sức mạnh và tốc độ của chúng thì kinh khủng, chả khác gì những chiếc máy bay tiêm kích hiện đại là bao.

 

Đội thần ưng khi ấy đã có chừng gần 50 con được huấn luyện tinh nhuệ, chúng là những chú chim trống dũng mãnh. Những chú chim mới ra giàng thì còn đang phải khổ luyện cùng những người quản ưng dày dạn kinh nghiệm. Bọn chim mái thì chăm sóc lũ chim non tại những hang đá trên đỉnh núi cao, nơi luôn luôn túc trực những người theo dõi ăn ở ngay gần đó để bổ sung thức ăn cho chúng, đợi khi lũ chim non bắt đầu trưởng thành là mang về doanh trại. Theo lối sống hoang dã, thần ưng thường đẻ được hai quả trứng, nở ra thành hai con chim non, nhưng theo bản năng chúng sẽ luôn tranh giành phần thức ăn, và cuối cuộc quyết tử một mất một còn này, tất nhiên bao giờ cũng chỉ còn sống sót có một con duy nhất. Vì lý do đó, những người giám ưng bí mật đánh cắp một con ưng non ngay khi vừa nở, thậm chí ngay khi trứng sắp nở, chăm sóc đặc biệt cho chú chim non này, để có thể nhanh chóng nhân rộng đàn thần ưng.

 

Tùy theo đặc tính, nói đúng hơn là theo tính cách và khả năng từng chú chim, mà chúng tôi sẽ huấn luyện chúng thành chim do thám, chim đưa thư, hoặc trở thành những chiến đấu cơ xung trận. Chúng có khả năng bay rất cao, rất xa, vượt trên cả những đám mây, bền bỉ tuyệt vời. Trong những chuyến thị sát xa nhất, chúng có thể bay tới tận bờ biển. Điều duy nhất mà chúng cần trong ngày, là một lần hạ cánh nghỉ ngơi nạp năng lượng buổi trưa trong vòng ba mươi phút, sau đó chúng lại có thể tiếp tục bay lượn cả chiều. Loài thần ưng này sở hữu một sải cánh dài, rộng, thân mình chúng chắc lẳn và nhẹ nhàng. Khi đạt độ cao cần thiết, chúng nương theo những luồng không khí đối lưu, hầu như không cần vẫy cánh vẫn có thể bay xa hàng chục cây số với tốc độ rất nhanh, mà lại tiết kiệm năng lượng, sức lực. Dù có bay xa đến đâu, chúng vẫn nhớ đường quay về ngắn nhất.

 

Việc huấn luyện loài chim khổng lồ này là này vô cùng gian khổ, đòi hỏi sự kiên trì và dũng cảm phi thường của những giám ưng. Họ đến từ miền đất xa xôi đâu đó mãi Tây Tạng và vùng Tây Côn Lĩnh, đã ngàn đời chung sống với loài bất kham này. Xưa kia chủ yếu họ huấn luyện và sử dụng thần ưng để săn thú. Họ ăn cùng ngủ với, sống chết cùng loài chúa tể bầu trời này. Khi chúng chết đi, họ hỏa táng và đem tro cốt lên đỉnh núi rắc theo gió, trong những nghi lễ trang trọng, bởi họ tin rằng chúng chính là sự hiển linh của thần thánh, đến từ những cơn gió, và thác cũng trong gió. Chiến tranh lan rộng, bệnh dịch hoành hành, những bộ lạc và thần ưng phải du mục qua những thảo nguyên mênh mông cô quạnh, thiếu vắng sự sống, chỉ còn lại tàn dư những bãi chiến trường bốc mùi tử khí, những làng mạc cháy rụi. Họ bay dần về phương Nam, vừa bay lượn vừa săn bắt thú sống qua ngày, phó thác theo trực giác bản năng của loài thần ưng. Thế rồi đất lành chim đậu, một ngày kia bầy thần ưng đã tìm thấy Tây Kinh phồn hoa tươi tốt, ẩn giữa những đỉnh Cửu Linh Sơn cao ngất. Chín chú chim trống dũng mãnh nhất đậu trên đỉnh chín ngọn núi quan sát, cùng những người đứng đầu bộ tộc, trong khi phần còn lại bay lượn vòng bên trên. Và rồi tất cả đã họ đã hạ cánh xuống ra mắt chúng tôi, xin được ở lại phò vua giúp chúa, xây dựng và bảo vệ xã tắc.

 

Việc khó khăn nhất là chế ngự bản năng bất kham của loài thần ưng này, khi chúng trưởng thành và đến tuổi săn mồi, rồi đến tuổi kết đôi, chúng trở nên vô cùng hung dữ. Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể dẫn đến mất mạng. Những người giám ưng hầu hết đều ăn ngủ bên chúng, chăm sóc và trò chuyện với chúng, bằng thứ ngôn ngữ riêng, bằng cử chỉ, và bằng tất cả linh hồn. Họ huấn luyện chúng bằng kỷ luật thép, nhưng cũng đầy yêu thương, luôn vỗ về và thưởng cho chúng xứng đáng khi biết học hỏi tiến bộ và vào khuôn phép. Giống như nài ngựa, tất cả các viên “phi công” của chúng tôi đều phải hàng ngày gắn bó với thần ưng ngay khi chúng trưởng thành, cưỡi và điều khiển chúng thành thục, cho chúng làm quen với tiếng súng đạn cung tên, khói lửa, hiểm nguy, tập cho chúng thành thục quắp theo thuốc nổ, thả trúng mục tiêu. Tham vọng hơn nữa, chúng tôi tập cho chúng cách cứu người, giải vây, hoặc cách bắt sống tù binh mà không làm cho đối tượng bị trầy xước một cái móng tay. Thậm chí chúng tôi còn huấn luyện cho chúng bay đêm, ngay cả những đêm không trăng không sao. Chúng bay theo mệnh lệnh của chủ, định vị địa hình theo trực giác và bản năng tuyệt vời của mình.

 

Tuổi đời của thần ưng khoảng hơn 100 năm. Vào thời điểm khoảng 60 tuổi trong cuộc đời hoang dã, chúng phải trải qua một thử thách đau đớn, khi mà lông đã xơ xác, mỏ và móng vuốt lão hóa, cùn mòn, không thể tiếp tục săn mồi, và điều đó đồng nghĩa với cái chết. Cuộc thanh lọc không khoan nhượng này rất khắc nghiệt, những con thần ưng chết dần, một số ít bay lên đỉnh núi cao, chui vào tổ trong hang, chúng mổ vào vách đá cho tới khi những cái mỏ long ra, gãy rời, tóe máu. Chúng nằm dưỡng thương chờ cặp mỏ mới mọc ra, dần cứng nhọn và sắc lẹm, khi đó mới có thể sử dụng mỏ để bẻ gãy móng vuốt của mình. Khi móng vuốt mới mọc lại, chúng tự dứt đứt từng cái lông già cỗi, để rồi sau đó tiếp tục chờ đợi chiếc áo lông vũ mới mọc lại. Toàn bộ quá trình này kéo dài nửa năm trời, đau đớn và đói khát tột cùng. Sau đấy, chúng tiếp tục tung hoành bá chủ bầu trời, mạnh mẽ hơn xưa nhiều lần, và sống tiếp chừng nửa thế kỷ còn lại, trong niềm kiêu hùng không gì sánh nổi.

 

Trong đàn thần ưng chiến đấu chỉ có duy nhất một con mái, cho một nữ phi công duy nhất, đó là Triệu Vi. Cô gái mê cung kiếm này nhất định đòi phải chinh phục bằng được bầu trời, nhưng hễ cứ vừa bước lên lưng bất cứ một con thần ưng trống nào, lập tức con chim xù lông xù cánh hất tung cô ta xuống không thương tiếc. Thậm chí, trong một cố gắng tuyệt vọng hòng chế ngự thần ưng, cô ta suýt bị nó mổ chết. Duyên mệnh đến vào một ngày nọ, khi một con chim mái theo chúng tôi bay về doanh trại. Thoạt tiên, nó không cho bất cứ ai lại gần. Chỉ tới khi Triệu Vi xuất hiện, xinh đẹp tuyệt trần trong chiến bào màu thiên thanh, con chim mái bỗng dưng run lên nằm bẹp xuống quy phục. Từ đấy, cô gái trẻ vẫn hay cưỡi thần ưng bay theo tôi dạo chơi, mỗi khi rảnh rỗi.

 

Con chim tôi cưỡi được đặt tên là Truy Phong, con chim mái của Triệu Vi có tên là Bạch Vân, chúng là một cặp đôi hoàn hảo. Ban đầu con Truy Phong tỏ ra khá lạnh nhạt, nó luôn tìm cách bỏ xa con Bạch Vân, với một thái độ có phần coi thường, khinh rẻ, kiểu như cánh đàn ông bĩu môi khi đàn bà nói chuyện chính trị vậy, đàn bà thì biết cái đếch gì, kiểu thế.

 

Con Bạch Vân không  phải hạng xoàng, và chủ của nó cũng vậy. Mỗi ngày, nó lại bám sát gần hơn chúng tôi, khiến cho con Truy Phong không khỏi bực mình chú ý, nó đảo cánh liên tục, thực hiện những đường bay phức tạp luồn lách qua những khe núi hẹp, với một tốc độ chết người. Không hề nản chí, con Bạch Vân kiên trì bám sát phía sau và học hỏi rất nhanh, nó thực hiện lại gần như y hệt tất cả những gì mà con Truy Phong đã làm. Mặc dù vậy, con Truy Phong của tôi vẫn kiêu lắm, nó chẳng bao giờ thèm “nói chuyện” với con Bạch Vân, dù nó biết tỏng là cô ả này ngưỡng mộ nó lắm rồi. Chẳng cần đến viên ngọc rắn tôi cũng hiểu thứ ngôn ngữ loài ưng này. Những tiếng kêu phát ra từ cuống họng chúng, với tần số và cường độ riêng biệt, luôn thể hiện tâm trạng và thông điệp riêng nào đó, mà nếu lắng nghe, kết hợp quan sát những ngôn ngữ cơ thể chúng, ta hoàn toàn có thể hiểu và giao tiếp được với chúng. Nhìn vào mắt con Bạch Vân là tôi đã biết nó rất khoái con Truy Phong, cái màng mỏng chớp chớp ngưỡng mộ, có một chút xấu hổ bản năng. Đám lông đuôi nó thường tớn lên mỗi khi ở gần Truy Phong, và thường xuyên quay đi quay lại, bứt rứt không yên. Con Truy Phong thì tỏ ra hờ hững, nhưng chả có điều gì mà qua mắt được nó, cái đôi mắt tinh tường đến kinh khủng ấy chẳng hề chớp tí nào, bất động, như thờ ơ, nhưng thực chất nó đang theo dõi tất cả, ghi nhận mọi hình ảnh xung quanh. Thái độ im lặng của nó, cũng gần như thể hiện rằng nó khó chịu bởi tất cả những trò lố lăng gây chú ý của lũ ưng trẻ hay khoe mẽ và cố tìm cách chứng minh bản thân. Dường như tất cả lũ ưng trẻ đều tìm cách gây chú ý với Truy Phong, thủ lĩnh của chúng, mà trong đó Bạch Vân là nỗ lực nhất, cũng có thể bởi nó là chim mái, nữ chiến binh duy nhất trong đám kiêu binh này. Cuộc đấu tranh bình đẳng giới đâu chỉ có ở loài người văn minh, nó diễn ra ngay từ thời cổ đại, trong xã hội người Việt cổ, và cả ở loài chim này.

 

Trong những chuyến bay, dần dần con Truy Phong thôi khó chịu với sự bám đuôi của Bạch Vân, thậm chí thi thoảng vừa bay nó vừa ngoái lại khích lệ Bạch Vân, và mỗi lần như thế lại khiến cô ả kia bàng hoàng vì sung sướng, phát ra những tiếng kêu phấn khích. Truy Phong giảm tốc, và đôi thần ưng này bay song song với nhau, thực hiện những đường bay xoắn xuýt đầy ngẫu hứng, lúc bên trái bên phải, lúc ở trên lúc ở dưới, chúng như hai chiếc tiêm kích biểu diễn nhào lộn vậy, khiến cho lũ ưng bay phía sau tướt mồ hôi vì bám đuổi, trong ngưỡng mộ và ghen tị không kể xiết. Màn đứng tim quen thuộc của chúng, là từ trên mây xanh bổ nhào xuống đỉnh núi với tốc độ kinh hoàng của một quả tên lửa, như thể chỉ trong giây lát tất cả sẽ tan xương nát thịt giữa những tảng đá lởm chởm. Thế nhưng gần sát đến nơi, chỉ một cái lắc cánh, những quả tên lửa trượt sát vách núi dựng đứng, và tiếp tục lao bổ xuống chân núi, xuyên qua khe giữa những mỏm đá gồ ghề mà tạo hóa bày la liệt tùy tiện trên đường bay, mà bọn thần ưng này gần như đã thuộc nằm lòng. Tất cả địa hình này chúng đã khắc ghi sâu vào trong bộ não, thông qua cặp mắt tinh tường mà loài người chúng ta không thể hiểu nổi, không thể lý giải. Trong những đường bay lắt léo kiểu này, tất cả những phi công đều phải để ở chế độ lái tự động, nghĩa là phó mặc may rủi cho những con thần ưng. Chớ có dại mà kéo cương chúng, bởi làm vậy thì sẽ đồng nghĩa là sẽ có ngay một tai nạn thảm khốc. Tất cả những việc cần làm lúc đó chỉ là rạp mình xuống nắm chặt lấy những túm lông trên gáy thần điêu, và phải chắc chắn là những đai bảo hiểm đã được thắt cẩn thận. Trò chơi này không dành cho những kẻ yếu tim.

 

Có một phụ tá của tôi, trong lúc bay đã sơ xuất không thắt chặt đai bảo hiểm, anh ta văng khỏi con thần ưng lúc nó đảo cánh khi chúng tôi đang bay xuyên qua một đám mây khổng lồ. Tiếng kêu hoảng hốt của con ưng kia khiến cả đàn lập tức bay vòng trở lại cắt mây hạ độ cao, bởi trong đám mây mịt mù này thì chẳng khác gì bay trong đêm tối, tầm nhìn chỉ còn là vài chụ mét mà thôi. Khi đã xuống tầng bình lưu bên dưới đám mây, may ra chúng tôi mới tìm thấy anh chàng phi công kia, đang bất đắc dĩ chơi trò nhảy dù tự do, lộn vòng và hoàn toàn mất phương hướng, chẳng theo bất cứ một phong cách nào hết.

 

Con thần ưng nào đó đã phát hiện ra tay phi công vừa rơi xuống từ đám mây, nó lập tức bay đến dùng chân quắp chặt lấy, và cố gắng thả anh ta xuống cánh đồng bên dưới. Chỉ vài tích tắc nữa thôi thì tay phụ tá của tôi đã chỉ còn là một đống nhão nhoét, bởi hôm đó những đám mây rất thấp.

 

Sau vụ này, tôi chỉ đạo gấp rút chế tạo dù. Tất cả những phi công máy bay, tàu lượn, khinh khí cầu, và những người cưỡi thần ưng, đều bắt buộc phải mang theo dù.

 

Máy bay của chúng tôi, nói cho oai vậy thôi, chứ thực chất nó chỉ là một chiếc tàu lượn cải tiến thêm cánh quạt đạp chân như xe đạp, và dự trữ vài ống thuốc phóng nhẹ. Mỗi khi cất cánh, một ống phóng được khai hỏa để tạo phản lực cất cánh, giống như pháo thăng thiên vậy, chiếc tàu lượn được phóng lên độ cao vài trăm mét, và từ đấy nó tha hồ lượn lờ vài tiếng đồng hồ, có thể bay xa được hàng chục cây số, thậm chí hàng trăm cây số, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết và những dòng không khí đối lưu, và cả sức khỏe của phi công nữa. Như những cua rơ đua xe đạp vậy, người phi công thi thoảng phải đạp để quay chiếc cánh quạt, tạo lực đẩy bổ trợ để nâng chiếc máy bay của mình lên mỗi khi nó mất độ cao, khi thiếu những luồng khí nóng thổi từ dưới lên. Những lúc đó giống như anh ta đang đạp xe lên dốc vậy, còn bình thường thì máy bay của chúng tôi luôn ở trạng thái giống như xuống dốc, khá nhàn nhã. Bao giờ trên máy bay cũng dự trữ vài ống thuốc phóng, và trong những trường hợp quá mệt, người phi công hoàn toàn có thể sử dụng nốt những ống phóng này để lấy độ cao cần thiết mà bay về nhà.

 

Chúng tôi chỉ không thể sử dụng máy bay thô sơ này vào những khi trời mưa bão, còn thì hầu như ngày nào cũng lượn lờ vài chiếc do thám, đưa thư, và canh gác bầu trời của chúng tôi, cùng với những chú thần ưng.

 

Thiết bị liên lạc của Tây Kinh tốt nhất mà tôi có lúc đó, là những chiếc điện thoại di động trang bị cho những tướng lĩnh, các quan đại thần. Bộ đàm và vô tuyến điện sóng ngắn cũng được sử dụng cho một số đơn vị khác. Đối với một số thông tin nhạy cảm, hoặc với các vùng xa xôi, tôi vẫn buộc phải sử dụng cách thức thô sơ nhất, chim đưa thư, máy bay, thậm chí cả kỵ mã thông tin. Tôi cũng sử dụng cả những cách truyền tin cổ xưa nhất, là bố trí người trực chiến quanh năm ở tất cả những đỉnh núi cao trải dài hàng trăm ki lô mét, thay nhau túc trực 24/24, họ sẵn sàng đốt lửa khói cảnh báo nguy hiểm. Bởi vì máy móc không đủ trang bị cho tất cả, mà tốc độ phát triển lại quá nhanh. Đôi khi, những thứ đơn giản lại là hoàn hảo, và an toàn nhất. Chắc chắn là tôi không muốn có một cái kết cục bi thảm như tay Bin Ladel.

 

 

(còn nữa…)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: