dangthieuquang

Phía tây có gì lạ?

In Uncategorized on Tháng Một 3, 2013 at 1:46 chiều

Với một số người theo chủ nghĩa xê dịch, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi ở trên đường, còn những lúc khác đối với họ chỉ là tồn tại vật vờ, buồn chán. Có lẽ tôi là một kẻ trong số vật vờ đó.

Chiếc máy bay lượn một vòng rộng, rồi nó đổi hướng và bay về phía tây. Núi đồi trùng điệp, những đám mây mê mải nối đuôi nhau chạy bất tận về phía chân trời. Máy bay, rồi cuối cùng cũng ổn định độ cao, tiếng động cơ đều đều, dường như mọi thứ đều chậm lại, cả ý nghĩ cũng vậy.

Tôi bước xuống, nắng khiến đường băng sáng chói, run rẩy. Những dãy núi hùng vĩ vây quanh, và mây trắng xóa đùn lên phía sau, giống như bức tường khổng lồ bằng bông gòn được ai đó xây trát một cách tùy tiện. Cánh đồng thung lũng Mường Thanh rộng bát ngát, phẳng phiu một cách khó tin. Tôi chợt hiểu lý do vì sao năm xưa người Pháp chọn Điện Biên Phủ để xây dựng tập đoàn cứ điểm quân sự khổng lồ ấy. Sân bay dã chiến này nằm ở trung tâm thung lũng rộng lớn bằng phẳng. Từ đây, dường như ta có thể thách thức mọi cuộc tấn công.

Ý nghĩ về lịch sử không kéo dài quá lâu, bởi vẻ đẹp hùng vĩ vùng Tây Bắc nhanh chóng quyến rũ tôi. Đang là đầu mùa thu, cánh đồng lúa xanh ngắt, thơm nồng nàn. Những hàng cây long não ven quốc lộ 279 tỏa ra một mùi hương tinh khiết, gợi đến một điều gì đó xưa cũ. Ngày xưa con đường này được đặt tên là đường 12, dẫn đến cửa khẩu Tây Trang, chạy sang đất Lào, và sau đó nhập vào cùng hệ thống chằng chịt những con đường huyết mạch vùng Đông Nam Á.

Chúng tôi kiếm đại một khách sạn, đó là khách sạn Hà Nội – Điện Biên Phủ, một khách sạn rẻ tiền, ở mức chấp nhận được, với giá 200.000đ/ phòng 3 giường, dịch vụ giặt là nói chung cũng ổn. Ngay ngã ba đối diện với khách sạn là một cái chợ khá lớn, đồ lâm thổ sản sẵn bán, ăn uống bình dân, lại sẵn có tiệm dịch vụ internet phục vụ đến 23h đêm. Với những người có thói quen lướt net, chẳng thể đòi hỏi gì nữa. Vả lại, mục đích chính của chúng tôi là dịch chuyển, và câu cá, hàng ngày chúng tôi chỉ quay về khách sạn vào buổi tối, để tắm rửa rồi lăn quay ra ngủ say như chết.

Ở Điện Biên thú vị nhất là câu sông. Sông Nậm Rốn sẵn cá, nhưng chủ yếu cá nhỏ. Muốn cá to phải đi Pa Thơm. Sông Pa Thơm chính là do Sông Nậm Rốn và sông Nậm Lúa hợp lại thành, toàn bộ nước mưa từ các dãy núi đổ xuống thung lũng Mường Thanh, rồi tất cả chảy về đây, vì thế mùa lũ nước rất to, nhưng cũng vì thế nên sông rất nhiều cá. Sông Pa Thơm chảy về sông Nậm Ou của Lào, rồi cuối cùng lại chảy về sông Mekong. Một số loài cá đặc trưng của sông Mekong cũng có ở sông Pa Thơm, bằng cách nào đó chúng đã ngược dòng hàng trăm ki lô mét, vượt qua cả những ghềnh thác hiểm trở.

Nếu ưa thích mạo hiểm, chúng tôi có thể dùng xuồng Kayak đổ thác xuôi dòng, tuy nhiên vào mùa lũ điều này là khá nguy hiểm. Vì thế chúng tôi dùng xe máy đi theo những con đường mòn, băng ngang ngầm suối, hay xuyên qua cả những thác nước đổ xuống từ sườn núi. Tôi nghĩ đây là địa điểm lý tưởng để phát triển du lịch mạo hiểm.

Chúng tôi dừng lại câu cá ở một khúc sông. Những cô gái miền sơn cước làm nương đi ngang qua, họ có nước da nâu hồng rám nắng, nụ cười thật quyến rũ, bí ẩn. Họ thuộc một bản người Cống duy nhất còn sót lại ở Việt Nam, với số nhân khẩu chừng 200 người. Những nóc nhà của họ dựng ở lưng chừng đồi, lúp xúp, nhỏ bé đơn giản, như chính cuộc sống của họ vậy. Nghe nói tộc người này bên Lào còn khá nhiều, thi thoảng họ phải qua lại biên giới dựng vợ gả chồng để duy trì nòi giống.

Chúng tôi câu được khá nhiều cá, những con cá lăng thuộc họ cá da trơn, râu dài, thịt của chúng rất ngon. Đặc biệt buổi tối hôm đó chúng tôi được thưởng thức món cá này chế biến theo kiểu truyền thống của người Thái, họ ướp tẩm gia vị từ hạt và lá cây rừng, quấn lá chuối nướng, hoặc nấu măng hay hoa chuối, và nhiều món ăn kỳ lạ khác nữa. Còn về rượu, đó là những vò rượu trong veo sủi tăm chưng cất từ lúa gạo Mường Thanh ủ men lá, làm mê đắm ngay cả những tay sành rượu nhất. Lạ một điều, uống đến say mềm môi mà chừng như vẫn muốn uống nữa, uống mãi.

Hôm sau, tôi được tham quan hồ Pa Khoang – hồ nước lớn nhất Điện Biên, có chức năng chủ yếu là cung cấp nước nông nghiệp cho cánh đồng lúa Mường Thanh. Ngoài ra nó cũng là một điểm du lịch sinh thái và nuôi thả cá. Có cả một hệ thống dịch vụ nghỉ ngơi khá hoàn chỉnh ở đây. Lợi dụng địa hình tự nhiên, từ một con suối chảy qua thung lũng, người ta chắn lại thành một hồ nước rộng lớn. Trên máy bay nhìn xuống, nó có hình dáng giống như một bàn tay xoè.

Lướt một vòng dạo quanh hồ bằng xuồng máy, cảnh trời mây non nước như thôi miên làm ta sững sờ. Đâu đó từ trong khe núi thấp thoáng xuất hiện vài chiếc thuyền độc mộc chở những người phụ nữ Thái tóc vấn cao, màu khăn áo sặc sỡ, tiếng cười của họ lanh lảnh vang trên mặt hồ. Hoàng hôn bắt đầu buông xuống chầm chậm, in bóng núi rừng thẳm sâu, thoảng xa nghe tiếng thú hoang tác mơ hồ. Mùa này cá to ngược lên thượng lưu, nơi dòng suối chảy vào lòng hồ. Từng đàn cá trắm cỏ từ 5kg đến 10kg vài chục con lượn lờ vào bờ kiếm ăn. Một tay câu may mắn đã tóm được chú trắm cỏ suýt soát 10kg.

Sau một ngày vận động, cơn đói cồn cào khiến bữa ăn càng thêm ngon miệng. Chúng tôi được chiêu đãi món lợn quay. Người ta lựa con lợn chừng chục ký, sau khi mổ, làm sạch, họ nhồi các loại lá cây rừng và gia vị vào bụng rồi đem nướng nguyên cả con trên đống than củi to, nhưng cách than hồng, để thịt chín đều. Những tảng thịt quay khi xẻ ra bốc khói, phần da mỏng giòn tan, thịt mềm và thơm phức, bốc tay ăn tại chỗ, thật không thể tả hết cái ngon của nó!

Mười ngày ở Điện Biên trôi qua rất nhanh. Tôi vòng về Sơn La bằng xe khách, phương tiện di chuyển rẻ tiền nhất. Con đường quốc lộ đang sửa chữa, thật kinh khủng! Chiếc xe lèn chật cứng người như một khúc giò, lê lết trên đường, mãi rồi nó cũng bò về đến Sơn La. Ngày hôm sau tôi đi về phía đèo Cao Pha, xuôi theo con suối Nậm La. Đến sát chân đèo, thật kỳ lạ, con suối biến mất, nó chui vào một cái hang nào đó trong dãy núi đá chắn ngang trước mặt. Chừng chục cây số thì lên tới đỉnh đèo, ngay khi đó tôi phát hiện ra rằng con suối xuất hiện trở lại ở chân đèo phía bên này, nó chui ra từ vách núi, xuất hiện cũng đột ngột như khi nó biến mất vậy. Nó đã phải chui qua những ngóc ngách nào dưới quả núi khổng lồ kia suốt cả chục cây số? Một câu hỏi mãi mãi không có câu trả lời. Người ta đang xây dựng một nhà máy thuỷ điện ở thung lũng sau đèo Cao Pha, nơi đây rồi sẽ biến thành một cái đập nước khổng lồ, nước dâng lên sẽ xoá sạch dấu vết mạch nước ngầm chảy ra.

Qua đèo Cao Pha, con suối Nậm La và Nậm Pàn hợp nhất làm một rồi đổ ra sông Đà ở bến Tạ Bú, nơi đó có những chiếc xà lan neo đỗ, một chiếc cầu treo bắc ngang qua, trông rất thơ mộng. Tôi buông câu ở đó và bắt được vài chú cá ngạnh, cá lăng, cá chiên. Đang cuối mùa lũ, nước sông Đà đục ngầu cuồn cuộn chảy. Bên kia cầu là một thị tứ nhỏ, dường như đang có phiên chợ hay sự kiện gì đó, già trẻ say sưa ồn ào náo nhiệt, tôi bật cười nghĩ đến một quán rượu trong phim cowboy. Trên cầu treo, bóng những cô gái xinh đẹp lướt qua, những nụ cười sơn nữ mới đẹp làm sao!

Hôm sau nữa tôi cùng vài người bạn vào cửa khẩu Chiềng Khương câu cá. Chúng tôi mang theo lều bạt cắm trại ở bãi cát ven bờ sông Mã, sát biên giới Việt – Lào, nơi con sông Mã chảy vào đất Lào, sau đó nó sẽ quay trở lại đất Việt ở Mường Lát rồi tiếp tục chảy xuôi về Thanh Hoá. Khu vực này cấm quay phim chụp ảnh, và phải trình báo đồn biên phòng trước khi buông câu.

Vấn đề ăn uống ở đây cũng không phức tạp lắm, khá rẻ. Ngoài đồ ăn mang theo chúng tôi đặt dân địa phương làm cơm mang xuống tận nơi, ngon nhất là món gà Lào, đã đến thì nên thử cho biết. Nói chung dân ở đây hiếu khách và rất cởi mở.

Chúng tôi câu được một số loại cá như chép, lăng, trạch chấu… trong đó có một chú cá lăng khá to. Khúc sông này có những con cá chiên rất to, vài chục ký, thậm chí lên tới hàng tạ. Đêm xuống, núi rừng âm u tối đen vây quanh. Chúng tôi kiếm củi khô đốt một đống lửa trại để nướng cá, để xua đi bóng đêm, tìm lại hơi hướng bầy đàn săn bắt hái lượm thuở nguyên thuỷ.

Tôi và một người bạn ngồi ôm cần trên một tảng đá lớn bên thác ghềnh chảy xiết, khu vực này rất nguy hiểm, sảy chân ngã xuống sông là toi mạng như chơi. Lời khuyên của tôi là đừng bao giờ đi một mình ra chỗ này. Giữa đêm khuya nghe tiếng nước réo đầy ma quái, bãi đá nổi lờ mờ muôn hình dáng kỳ lạ. Trên bầu trời một quầng sáng mờ nhạt in bóng cây rừng tối sẫm, mặt sông loang loáng hư ảo. Tôi nhớ lại ban chiều những người dân bản địa tỏ ra kinh ngạc khi biết chúng tôi sẽ câu cá qua đêm ở đây, họ nói rằng bãi đá này có ma. Tôi nghĩ bụng đời mình chưa từng nhìn thấy ma, biết đâu lần này sẽ thấy?

Gần sáng, trời đổ mưa. Chúng tôi rút vào lều nằm co ro, gió lạnh lùa vào không ngủ được. Tiếng mưa rơi lộp độp trên mái lều, mưa gió xô dạt trên tán lá rừng, chạy về đâu đó phía xa tít nơi rừng đại ngàn vùng Thượng Lào, nơi chân trời, hoặc xa hơn nữa.

Theo lịch trình, ngày hôm sau chúng tôi sẽ ghé qua Mộc Châu xem lễ hội chợ tình rồi quay về Hà Nội, kết thúc nửa tháng lang thang núi rừng. Thì đúng thôi, mọi con đường rồi cũng sẽ kết thúc.

Thế nhưng ngay lúc đó, bỗng dưng tôi chỉ muốn được đi mãi về phía Tây.

  1. bác viết nhiều mà không có ảnh minh họa thì đọc chán chết

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: