dangthieuquang

Archive for Tháng Một, 2010|Monthly archive page

Lại thơ nữa này

In Uncategorized on Tháng Một 13, 2010 at 11:08 sáng

Rời bỏ

Rời bỏ mọi từ ngữ, rời bỏ những con đường
rời bỏ thế giới này
rời bỏ những người tình, rời bỏ chính mình
rời bỏ những khổ đau thù hận
rời bỏ những yêu thương ân ái
rời bỏ những bình minh ngái ngủ hay hoàng hôn hấp hối
rời bỏ những đêm thâu mê đắm miên man
rời bỏ, hãy rời bỏ

Anh sẽ chết trước khi kịp bỏ đi
anh sẽ chết bởi ngôn từ của chính mình
bởi thù hận sẽ giết chết anh
bởi nỗi đau sẽ giết chết anh
bởi vẻ đẹp huy hoàng của một ngày sẽ giết chết anh
bởi sự buồn chán của một ngày sẽ giết chết anh
bởi tiếng gào thét im lặng của đêm tối sẽ giết chết anh

Nào mỉm cười đi anh
mỉm cười đi em
hãy rời bỏ
trước khi tình yêu đó chết

Đ.T.Q
19/11/09

Advertisements

Thơ nữa

In Uncategorized on Tháng Một 13, 2010 at 11:04 sáng

Giấc mơ

Em ạ, trời đã sáng rồi đấy
phía bên kia địa cầu
nơi những con người xa lạ
họ, tỉnh dậy trên giường
vội vàng quên đi giấc mơ buồn bã

Chỉ có anh nơi đây chìm trong bóng tối
với giấc mơ tuyệt diệu
anh không thể quên, không bao giờ
ánh mắt nụ cười của em
đã dắt anh lạc vào chốn mê cung này

Em ạ, trời đã sáng rồi đấy
nhưng giấc mơ của anh vừa mới bắt đầu
sẽ là mãi mãi, có thể
một kẻ cô đơn có tỉnh dậy bao giờ
em sẽ định đi đâu?

Con đường mòn quanh co, em có nhớ
giấc mơ ta chưa đi đến tận cùng
nơi ấy, sỏi đá buồn chơ vơ
ngàn lau dại phất phơ chờ em tới
trên cao xanh mây trắng cũng ngừng trôi

Em có nhớ, một trưa vắng đầy nắng
ta nhìn vào mắt nhau
lửa thiêu đốt anh và cánh rừng xanh
hong khô cả dòng sông
bầu trời kia cũng run rẩy, trong mắt em

Em muốn mình đi đâu
giấc mộng này sẽ không bao giờ kết thúc
trong im lặng đắm đuối những lời yêu
ánh mắt em hay những vì sao xanh nhấp nháy
đã khiến anh mê mải bay theo

Em muốn mình đi đâu, em hỡi
đôi chân anh chưa từng biết mỏi
sẽ đưa em đi đến tận cùng
nơi giấc mơ xa nhất loài người, em có biết
đó là nơi mình sẽ đến cùng nhau

Đ.T.Q
HN – 09/10/09

Thơ

In Uncategorized on Tháng Một 13, 2010 at 10:59 sáng

Cơn bão

Ngủ đi em
Bão tố đang tràn qua
Quét sạch mọi thứ trong hồn anh
Phá tan hoang căn nhà trống
Có gì đâu trước khi em đến
Sau khi em đi

Ngủ đi em
Đừng khóc trong cơn giông tố
Gió mưa không làm anh ướt áo
Nhưng nước mắt sẽ nhấn chìm cả hai ta
Hãy gạt lệ và ngủ đi em
Cơn bão lòng rồi cũng sẽ qua thôi

Ngủ đi em
Sấm rền chớp giật ngoài kia
Em hãy xem như lời âu yếm
Và gối mềm dù vấn vương hơi ấm
Rồi đến ngày cũng lạnh lẽo tàn tro
Ai sẽ nhóm lại bếp lửa hồng

Ngủ đi em
Hãy ngủ yên và quên lãng
Hãy quên đi những cơn cuồng nộ
Hãy quên đi những giây phút ngọt ngào
Hãy nhắm mắt nuốt vào lòng cay đắng
Ly rượu phong sương em uống vạn giọt sầu

Ngủ đi em
Anh còn mải tìm vui trong cơn lốc xoáy
Xé lòng mình thành trăm dải mây đen
Biến thành ngàn ngọn gió lạnh
Triệu triệu hạt mưa sa
Rồi sẽ là cơn lũ cuồng điên

Ngủ đi em
Sẽ nhanh thôi giấc mộng phù du
Ta sẽ nghỉ ngơi trong cõi vĩnh hằng
Ở nơi đó sẽ không còn giông bão
Sẽ không còn nước mắt và khổ đau
Ở nơi đó, ta sẽ về bên nhau

HN 01/10/09 – Những ngày mưa bão

Ký ức Hà Nội

In Uncategorized on Tháng Một 13, 2010 at 10:57 sáng

Gia đình tôi trước kia ở Lào Cai, chiến tranh biên giới năm 1979 xảy ra khiến cho mỗi người một nơi. Cha tôi thì trong quân ngũ, đơn vị đóng tận Ninh Bình. Mẹ tôi dạy học ở Yên Bái, đứa em gái út tôi sinh năm 1980 ở cùng với mẹ. Đứa em gái kế sau tôi thì ở với bà dì mãi tận Bảo Yên. Còn tôi được gửi ở nhà ông bác ruột, ở khu lao động Tân Mai mấy năm, đi học mẫu giáo, vỡ lòng, rồi vào lớp 1.

Tôi vẫn còn nhớ những lần đầu về Hà Nội. Có thể đó là một chuyến xích lô từ ga về, trong đêm khuya, phố xá hoang vắng dài hun hút, hiu hắt ánh đèn đường. Hoặc đó lại là một buổi chiều tà đang hấp hối, phố xá bắt đầu lên đèn. Rời nhà ga, mẹ con tôi lên một chiếc tàu điện. Ngoài ô cửa sổ tàu điện, bầu trời chạng vạng in bóng những dáng hình liêu xiêu của phố xá lướt qua, tiếng leng keng, ánh chớp lẹt xẹt tia lửa điện trên cao do những toa tàu điện gây ra, tất cả nhòe nhoẹt trong nước mắt tôi. Mẹ cố hát ru tôi ngủ, nhưng càng làm tôi khóc tợn, đó là năm 1979, tôi mới lên 5 tuổi, và tôi sắp phải xa mẹ.

Bố tôi từ đơn vị về thăm, rồi bố lại đi. Tôi chạy theo tìm bố, từ khu lao động Tân Mai cho đến tận Chợ Mơ. Một ai đó tốt bụng khi thấy tôi khóc trên tàu điện đã hỏi han rồi đưa tôi về tận nhà. Khu lao động Tân Mai hồi đó là vô số những dãy nhà tạm cấp bốn chạy dài, lụp xụp. Bình thường nó mang một dáng vẻ buồn thảm nghèo nàn với những bức tường loang lổ, những mảnh vườn cúc tần và dâm bụt mọc hoang tàn. Người ta đem tất cả những tấm thép đồng nát từ nhà máy cơ khí thải ra về chắp vá thành hàng rào gỉ nát, đó là những tấm thép dập đủ hình thù, từ mắt xích xe đạp, hình tròn như đồng xu, hình tam giác, hình vuông… thật kỳ lạ, chúng in sâu vào trong tâm trí tôi, bởi những hình kỷ hà buồn tẻ lặp đi lặp lại đều đặn của nó. Rồi dây tơ hồng tha hồ leo trên những bụi cúc tần, càng làm cho mọi thứ trở nên giống như đã bị loài người bỏ quên. Những chiếc cột điện trơ trọi, ban đêm bóng đèn vàng vọt tù mù rọi xuống một quầng sáng yếu ớt. Vòi nước máy công cộng rỉ từng giọt, với những xô thùng xếp hàng xung quanh.

Từ năm lớp 2 tôi về Yên Bái sống cùng mẹ. Rồi thời gian trôi qua, tôi lớn dần. Thi thoảng nghỉ hè hoặc tết tôi được về Hà Nội chơi. Tôi còn nhớ những chuyến tàu đêm chạy qua cầu Long Biên, tiến vào Ga Hàng Cỏ. Từ trên cao dọc phố Phùng Hưng, qua cửa sổ tàu, những cảnh sinh hoạt đời thường của người dân lướt qua. Một gia đình đang ăn cơm. Họ đi lại trong nhà. Ánh đèn từ nhà họ hắt ra, màu vàng vọt của đèn sợi đốt, màu sáng xanh của đèn neon, chao ôi là kỳ lạ! Thường khi đó tôi sẽ cảm thấy cay cay sống mũi.

Những ô cửa sáng đèn, mãi sau này tôi mới hiểu đó chính là biểu tượng cho sự sum họp mà tôi thèm khát, nó luôn toát ra một vẻ bí ẩn quyến rũ, nhất là khi ngắm từ xa, hoặc khi hình ảnh đó trôi lướt qua như thế, khi đoàn tàu chạy chậm dần và đến cuối hành trình. Nơi đó, có một mái nhà đang chờ đón tôi, với những vòng tay người thân chờ đón.

Lan man về Kundera

In Uncategorized on Tháng Một 13, 2010 at 10:53 sáng

Đâu như vào khoảng năm 1996, Tạp chí Văn học nước ngoài in số đầu tiên, trong đó có đăng toàn bộ tiểu thuyết Sự bất tử của Milan Kundera, do Phạm Xuân Nguyên dịch. Tôi đã đọc Sự bất tử với một sự khoái trá khó tả, đọc xong liền đem ngay cho bạn bè mượn đọc, rồi cùng nhau bình luận thích thú. Sau đó một thời gian, khi đọc thêm Nghệ thuật tiểu thuyết và Những di chúc bị phản bội, do Nguyên Ngọc dịch, cùng một số tác phẩm khác của Kundera, thì tôi biết chắc chắn một điều, tôi sẽ mặc nhiên xếp ông vào một trong số các bậc thầy. Hơn chục năm sau, năm 2007, khi lần đầu gặp dịch giả Phạm Xuân Nguyên, tôi mới có dịp nói lời cảm ơn, vì đã đem đến cho công chúng Việt Nam, trong đó có tôi, một tác phẩm như thế.

Những thứ Kundera viết ra rất hấp dẫn, khiến một người viết văn như tôi không tránh khỏi bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, ông không phải nhà văn mà tôi yêu thích nhất, bởi ông tỏ ra quá tỉnh táo trong các tác phẩm của mình, trong những cấu trúc phức tạp đầy tham vọng của nó. Hơn nữa, sự tiết chế và làm chủ kỹ thuật viết của ông dường như khiến tác phẩm trở nên xơ cứng, tự giới hạn trong những luận đề của nó. Sau khi đọc xong một tác phẩm của ông, tôi cảm thấy no nê thỏa mãn. Mọi thứ trong tác phẩm đã được tính toán chặt chẽ, thông minh, sắc sảo, gần như hoàn hảo. Và thật buồn cười, về sau điều đó lại khiến tôi bứt rứt, rốt cục chính nó khiến tôi không thoải mái. Sự duy lý thống trị, nén người đọc vào trò chơi hành xác, không ngừng nghỉ. Đúng vậy, tôi đã không thể dứt khỏi những trang sách đó, theo dõi những phân mảnh đan cài chồng chéo trong cuốn sách đã tạo nên một không gian đa chiều như thế nào. Tôi nhận ra những kỹ thuật lắp ghép của tác giả qua từng chương trong Sự bất tử, bị thu hút bởi những tư tưởng chủ đạo của nó, không cưỡng nổi, như bị áp đặt. Mà bao giờ cũng vậy, khi bị áp đặt, ta luôn có phản ứng chống lại.

Người ta hay so sánh các tác phẩm của Kundera với một bản giao hưởng, họ cũng hay nhấn mạnh về cấu trúc bảy chương của ông. Nhưng tôi cho rằng đã dùng đến chữ cấu trúc là ta phải hình dung ngay đến không gian. Không gian tiểu thuyết của Kundera vốn dĩ đã rất phức tạp, khi mà mỗi nhân vật trong đó dường như đều là những con bệnh của Freud, họ đều có vấn đề. Đã vậy các nhân vật và các câu chuyện kể lại diễn ra trong những thời đại khác nhau, một vài trong số đó là những danh nhân đầy huyền thoại, họ đến sum họp trong ngôi nhà tiểu thuyết của Kundera. Hãy đi tìm những ý nghĩa phía sau những ẩn dụ, hãy đi tìm lời giải và lối thoát trong cái mê cung rối bời này! – Lời mời gọi lôi kéo chúng ta chìm đắm vào những không gian đó. Nó giống như một mệnh lệnh thì đúng hơn.

Có thể nói Kundera rất thời thượng, khi ông dùng nhiều thủ pháp và kỹ xảo đến thế. Sự sum suê trong tác phẩm của ông khiến tôi kinh ngạc. Ngôi nhà tiểu thuyết (hay lâu đài?) của ông được xây dựng từ rất nhiều chất liệu, nền móng là những quan điểm triết học và mỹ học của ông, quan điểm về xây dựng tiểu thuyết của ông, đó là những viên đá tảng. Tất nhiên ta không thấy chúng ngay lập tức, nhưng ta biết chúng tồn tại, qua những gì mà chúng nâng đỡ. Hệ thống kết cấu, hay còn gọi là cấu trúc, bao gồm những câu chuyện của các thân phận, được đan cài và xoắn vào nhau. Mỗi thành phần trong hệ thống xoắn này một mặt độc lập trong những vai trò và nhiệm vụ cụ thể, nhưng mặt khác lại không thể thiếu được cho sự tồn tại của những thành phần khác. Trong ngôi nhà tiểu thuyết của Kundera, ta thấy hầu như không có gì là thừa thãi, mọi thứ thoạt trông có vẻ như tình cờ, nhưng chúng đều đã được tính toán kỹ lưỡng. Ở đây ta sẽ thấy Kundera lại giống như một đạo diễn giỏi và khó tính, ông ta vứt bỏ mọi thứ không cần thiết khỏi bộ phim của mình, giữ cho khán giả chú tâm vào những vấn đề cốt yếu mà ông hướng tới. Nhưng có lẽ chúng ta cũng không nên quá lo lắng rằng mình đang bước vào một ngôi đền linh thiêng, bởi Kundera luôn biết cách để độc giả được giải trí bằng vô số những chi tiết, những họa tiết trang trí, mà thường thì chúng ta sẽ nhanh chóng nhận ra đó là những bức biếm họa, nực cười, đầy chua cay.

Tôi chợt liên tưởng đến cuốn Lâu đài của Kafka, đôi lúc nó gây cảm giác ngột ngạt giống như khi đọc tác phẩm của Kundera vậy, nhưng ở cấp độ cao hơn, dù sao Kundera cũng còn cho chúng ta được hít thở đôi chút.

Khi đã có một cấu trúc vững chắc đó rồi, Kundera thoải mái bày biện và tô điểm cho lâu đài tiểu thuyết của mình. Nếu ta nói ông dồn nén hay nhồi nhét cũng chẳng có gì quá đáng. Ở đây có một nghịch lý, bản chất của không gian là sự trống rỗng, càng cố xây dựng không gian bằng những vật liệu hữu hình, không gian càng bị cô đặc lại, thậm chí biến mất. Lâu đài tiểu thuyết của Kundera dần trở nên chật chội và bức bí, khó thở, nhưng biết làm sao được, chúng ta đã trót làm khách quý viếng thăm lâu đài này rồi. Bất cứ thứ gì cũng có thể trở thành chất liệu xây dựng của kiến trúc sư Kundera: bản tin radio, truyền hình, những mẩu ký ức nhỏ, các vĩ nhân, âm nhạc, lịch sử, triết học, hội họa, phân tâm học, chiến tranh, tai nạn giao thông, những tấm ảnh, những khuôn mặt vô danh, tiếng động, mùi hương… Một câu hỏi đặt ra là ngay cả những điều đó, có thật chúng là chất liệu? Hay chính ông đã cố tình tạo ra những chất liệu đó? Tách trà của Proust có thật hay không? Điều đó chẳng mấy quan trọng, nhưng những tiểu thuyết gia đều hiểu rằng sự thật tiểu thuyết là một thứ thiêng liêng ngang bằng với một trò đùa, một trò chơi, mọi câu hỏi nghi vấn về nó đều là lố bịch và nực cười. Đâu đó trong lúc đọc truyện của Kundera, ta thấy những cái nháy mắt của ông: Có thể, mọi thứ rất có thể là vậy.

Nhân tiện so sánh Kundera như một đạo diễn, ngoài lề một chút, phải nói đến bộ phim The UnBearable Lightness of Being (Đời nhẹ khôn kham) chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của ông, một bộ phim thất bại. Tôi xem bộ phim này khi chưa đọc Đời nhẹ khôn kham. Công bằng mà nói, ban đầu bộ phim khá gây ấn tượng khi có sự tham gia của những diễn viên sáng giá có vẻ rất phù hợp cho các nhân vật, nhưng xem xong phim, ấn tượng cuối cùng về nó là sự tẻ nhạt. Tôi bất giác liên hệ đến bộ phim Blue (Màu xanh) trong chùm phim Three Color (Ba màu) của đạo diễn Krzysztof Kieślowski gốc Ba Lan, đó là những bộ phim tuyệt vời. Dường như có một số điểm trùng hợp, họ đều gốc Đông Âu, nếu Kundera thích cấu trúc 7 phần thì ở chùm phim của đạo diễn Krzysztof Kieślowski là cấu trúc 3 phần, và yếu tố âm nhạc đều đóng vai trò quan trọng trong các tác phẩm của họ, theo những cách thức khác nhau. Nữ diễn viên Juliette Binoche cũng đóng trong cả The UnBearable Lightness of Being và Three Color.

Tiểu thuyết là một thứ không thể thay thế. Điều thú vị dễ nhận ra nhất khi đọc tiểu thuyết của Kundera là những suy ngẫm nội tâm vặt vãnh của các nhân vật (mà diễn tả điều này bằng ngôn ngữ điện ảnh là gần như bất khả thi).

Sự giễu cợt không nhân nhượng đến mức cay độc của ông, đôi khi giống như tự trào, khiến tôi phải bật cười, nhưng chính nó cũng khiến tôi cảm thấy hổ thẹn bởi cảm giác tòng phạm. Qua mô tả những ám ảnh và ẩn ức của các nhân vật, khi phân tích tâm lý đám đông, thói đời, Kundera tự phân tâm chính mình. Nhưng có lẽ vì quá tỉnh táo, không bao giờ ông bước qua được lằn ranh mong manh tỉnh thức của chính mình, ông không cho phép giấc mơ của mình đi quá xa. Mọi thứ với ông luôn ở trong tầm kiểm soát. Đây chính là điều khiến tôi cảm thấy không thỏa mãn ở tác gia này. Trong tập sách in gộp Sự bất tử, Chậm rãi, Bản nguyên, tôi thấy sự lặp lại của ông, thậm chí gây nhàm chán. Sự bất tử vượt trội như một đỉnh cao, khiến những thứ ông viết trước đó và sau này, so với nó đều trở nên mờ nhạt, nhất là khi chúng lại được in chung trong một tập sách. Điệu valse giã từ khá hay, nhưng tôi cũng chỉ thích nó vừa phải.

Đọc sách của ông, tôi luôn có cảm giác ông luôn cố gắng khái quát cao độ mọi thứ, gom chúng về một chỗ. Có thể điều đó khiến tác phẩm của Kundera dường như lớn hơn chính nó, bao trùm, tiến xa hơn những gì mà một cuốn tiểu thuyết có thể chạm đến. Nhưng trong nỗ lực ấy, chính nó đã bị giới hạn, như mọi cuốn tiểu thuyết luận đề khác. Sức mạnh tư tưởng, lối tư duy sắc sảo lạnh lùng của ông, óc phân tích và khả năng dẫn dắt, áp đặt luật chơi, đã lấn át mọi thứ. Sự tiết chế của Kundera khiến độc giả bị ức chế. Hiếm hoi lắm mới thấy những khoảnh khắc êm ái, nhưng nó cũng chỉ như một trữ tình ngoại đề. Ví dụ như trong Sự bất tử có những đoạn ông mô tả những vẻ đẹp nữ tính, hồi ức của một cô gái về người cha và những hình ảnh, cảm xúc của cô mà mấy câu thơ gợi ra, v v… Theo tôi, những khoảng nghỉ ngơi này cũng giống như những khoảng trống nghỉ mắt trong một bố cục tạo hình, nó là rất cần thiết trong một cuốn tiểu thuyết đậm đặc như thế. Tiếc là Kundera không dễ dãi trong chuyện này, ông vứt bỏ mọi thứ mà ông cho là rườm rà.
Chúng ta đã biết đến Milan Kundera như một nhà văn hàng đầu thế giới, một nhà tư tưởng, ngoài ra có thể ví ông như một bác sĩ phân tâm học, một nhà biên kịch phim kiêm đạo diễn, một nhạc sĩ sáng tác, một nhạc trưởng chỉ huy, một họa sĩ, một kiến trúc sư kiêm kỹ sư kết cấu. Vậy Kundera thực sự là ai? Chắc chắn ngay cả khi ta đọc toàn bộ tiểu sử của ông, hồ sơ bệnh án, mọi tài liệu liên quan… câu trả lời cuối cùng vẫn sẽ dẫn đến một câu hỏi khác.

Câu trả lời nằm trong chính những tác phẩm của ông, với tư cách một tiểu thuyết gia, và không còn cách nào khác, chúng ta sẽ nhận được câu trả lời đó khi đọc những tác phẩm ấy.

Thật kinh ngạc khi Kundera là một tác giả văn chương hàng đầu thế giới, nhưng qua những bản dịch, tôi thấy ngôn ngữ văn chương của ông không mấy quyến rũ. Văn phong của ông khá nghèo nàn, chủ yếu mô tả tình huống và phân tích tâm lý. Ở khía cạnh này, ông giống một nhà phân tâm nửa mùa. Điều lớn nhất mà ông đem lại cho độc giả là những nhận thức về tư tưởng, và sự thức tỉnh nào đó, qua những điều nực cười, những tiếng cười chua chát, đầy cay đắng, và cũng cay độc nữa. Thói đạo đức giả và những vở tuồng của cuộc đời được phô bày không nhân nhượng, trước đôi mắt cú vọ của Kundera. Thật khó mà tìm được một sự an ủi ve vuốt khi đọc tác phẩm của ông, độc giả buộc phải tham gia vào một cuộc phân tâm tập thể, mà ngay cả những lời nói dối cũng ẩn chứa sự thật, về cuộc đời, thân phận, sự hằn học đen tối của đám đông bầy đàn, của loài người, mà chúng ta không là ngoại lệ. Sự bi quan trong các tác phẩm của Kundera khiến độc giả bất an, hoang mang, vì dường như mọi thứ trên đời đều không như nó vốn là, và ông cũng không chỉ ra cái mà nó nên là.

Cuộc sống không ở đây, vậy thì nó ở đâu?

Đặng Thiều Quang

http://www.tuanvietnam.net/2009-10-07-trang-page-4

Vì sao tôi viết?

In Uncategorized on Tháng Một 13, 2010 at 10:50 sáng

Đặng Thiều Quang – Bài trên An Ninh Thế Giới cuối tháng

Với riêng tôi, viết văn là một công việc thú vị, đem lại những cảm xúc mạnh, và cũng khá vất vả. Tại sao tôi lại viết văn? Câu trả lời rất đơn giản, vì đó là công việc tôi yêu thích, công việc mà tôi có thể làm tốt nhất. Nếu không là một kiến trúc sư và nhà văn, có lẽ tôi đã là một ca sĩ, diễn viên, họa sĩ, nhạc sĩ, đạo diễn… Bởi vì tôi yêu nghệ thuật. Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ, là thế giới của trí tưởng tượng và sáng tạo tự do. Nghề kiến trúc sư cũng là lao động sáng tạo, mà tác phẩm chính là những ngôi nhà, ngoài khả năng thiết kế của kiến trúc sư, sản phẩm cuối cùng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa như khả năng kinh tế, suất đầu tư, những yêu cầu kỳ quặc từ khách hàng, kỹ thuật và công nghệ xây dựng…

Viết văn thì khác, nhà văn có toàn quyền quyết định tác phẩm của anh ta.

Nhưng khi đối diện với trang giấy trắng, hay trước màn hình computer, người ta sẽ tự hỏi: Viết cái gì? Viết cho ai đọc? Viết như thế nào? Tại sao lại viết? Tại sao lại thế này mà không phải thế kia?

Lúc đó, bạn sẽ không thể chạy trốn đi đâu được nữa, buộc phải trả lời những câu hỏi cơ bản tưởng chừng như đơn giản và cũ kỹ muôn thuở ấy. Và câu trả lời rất đơn giản, phải lún sâu vào cái cuộc phiêu lưu mà mình đã trót bày ra, vậy thôi. Câu trả lời nằm ngay trong hành trình, trong việc viết, và sau này là quá trình đọc (khi đã có độc giả), chứ không phải ở cái kết thúc câu chuyện mà bạn định kể. Hành Trình, chứ không phải Đích Đến, đó là cái mà một cuốn tiểu thuyết bày ra, với tôi chẳng có cái gì giống như và thay thế được tiểu thuyết. Tôi quên chưa nói rằng viết tiểu thuyết đầy thách thức, khó khăn, nhưng những gì mà tác giả và độc giả nhận được cũng rất xứng đáng. Cắt nghĩa hay giải thích một cuốn tiểu thuyết, luôn là một việc mạo hiểm, dại dột, cho dù là từ chính tác giả viết ra nó. Tôi chỉ có thể nói, tôi đã viết tiểu thuyết với một nỗ lực đầy khoái cảm, như say nắng, lên đồng. Tất nhiên trong quá trình đó người viết rất dễ bị cám dỗ vào xu hướng viết tiểu thuyết luận đề, hoặc triết lý vụn và nhấp nhổm định “nói lên điều gì đó” – Tốt thôi, viết chính là muốn nói lên điều gì đó mà, hoăc là muốn nói theo cách khác đi. Nhưng có mấy vấn đề xảy ra, có thể vấn đề định nói chả có gì mới lạ, có thể nó bị tầm thường hoá thành một phép chứng minh sơ sài. Và thường sẽ là như thế, ngay cả khi bạn cố chứng minh một sự phi lý đi nữa, hay bạn cố chứng minh là mình không chứng minh gì cả. Không tin ư? Bạn cứ thử viết tiểu thuyết đi, bạn sẽ thấy ngay.

Bạn có gì để nói với chúng tôi?
Bạn nói về điều đó như thế nào?

Ngay khi bạn nghĩ rằng có gì đó hay ho để kể, thì nó cũng giống như một tuyên ngôn. Một tuyên ngôn thì thường sẽ chống lại những điều sáo mòn, cũ kỹ. Cả thế giới này đầy những thứ cũ kỹ và nhàm chán, và bạn có nguy cơ sẽ phải chống lại cả thế giới, bằng cái tuyên ngôn kia, ít ra là bạn sẽ tự cảm thấy như thế. Bạn sẽ thấy sợ hãi, tất nhiên. Từ đây sẽ có hai lựa chọn sinh tử đối với một nhà văn, hoặc đi tới cùng sự tự do sáng tạo, hoặc sẽ thỏa hiệp với những thứ nhờ nhờ cũ kỹ kia. Những ai từng viết văn mà nhận ra được điều này, họ sẽ hiểu rằng viết văn chưa bao giờ là một công việc nhàn hạ, chưa bao giờ là một lựa chọn dễ dàng.

Nghe thì tưởng như mâu thuẫn, nhưng sự thật là chính những khao khát khám phá nội tâm, đối diện nỗi sợ hãi, đối diện sự vô nghĩa, chống lại sự lười biếng, đã thôi thúc nhà văn viết. Một thế giới tưởng tượng đã mở ra, nhà văn vừa xây dựng, khẩn hoang, vừa khám phá nó, khu rừng rậm ký ức và suy tưởng, đó là một thế giới như nó có thể và nên là, chứ không phải như nó đã là.

Đ.T.Q
19/08/2009