dangthieuquang

Archive for Tháng Một, 2009|Monthly archive page

Cuồng cẳng

In Uncategorized on Tháng Một 31, 2009 at 1:19 sáng

Tình hình là ở nhà lâu quá rồi, mà trời thì ấm dần, những nẻo đường đang chờ bước chân anh. Các bạn có gì vui? Chẳng có gì vui à? Chán nhỉ! Tuổi thơ hạnh phúc qua rồi thì đời còn gì vui? Nhiều bạn gửi tin nhắn chúc anh vui vẻ, kiếm được nhiều tiền, may mắn… Cám ơn các bạn, vui hay không là do mình, tiền bạc giống như trái cây không từ trên giời rơi xuống mà phải gieo hạt vun trồng tưới tắm mới có ngày hái quả…

Còn may mắn may ra có chút ý nghĩa gì đấy, đúng không nhỉ?

May mắn là gì? Là hôm nay vẫn còn được hít thở khí giời, còn những ham hố vớ vỉn rất con người, là vẫn còn những toan tính. May thế! Toan tính bây giờ của mình là trong tháng giêng này vẽ nốt cho xong mấy cái nhà dân kiếm ít xèng rồi ngồi viết tiếp mấy truyện đang viết dở, rồi lượt phượt, rồi trèo lên non ngắm biển mây, hay ngồi bờ sông vắng nào đấy câu cá.

E rằng dự tính thế là hơi quá xa rồi.

Advertisements

Anh chẳng có chi làm quà

In Uncategorized on Tháng Một 25, 2009 at 10:21 chiều

Đây là dòng lưu bút gửi tặng các bạn độc giả tờ Người Đẹp Việt Nam, chắc tặng các bạn blogger nhân dịp đầu năm cũng tạm được.

Photobucket

Trông bánh chưng chờ trời sáng

In Uncategorized on Tháng Một 24, 2009 at 7:16 sáng

Photobucket

Mấy năm nay thành thông lệ, cứ mấy ngày cuối năm lại chạy về ngoại thành tết bố mẹ vợ, vì ông bà chiều con rể cả năm rồi, đâm cũng có tí gọi là nịnh lại ông bà. Tối đến ngồi gói bánh chưng, bắc nồi luộc, thú vị phết! Hồi xưa mình cũng vài lần gói bánh, nhưng toàn gói khuôn. Giờ thì gói tay bo, nói chung bánh mình gói bao giờ cũng ít gạo nhiều đỗ, nhiều thịt. Đẹp thì không đẹp, nhưng chất lượng! Xong rồi gói hai cái bánh nhỏ cho hai cô con gái rượu, cái to cho con chị, cái nhỏ cho con em. Nào ngờ về con chị lại thích cái bánh nhỏ, thế là đứa em đành lấy cái bánh to.

Tết nhất có mỗi lúc này là khoái nhất. Rồi bắt đầu chuỗi ngày ăn uống tất niên tân niên liên miên.

Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Màn mừng tuổi này rất hấp dẫn đàn cháu, và cả bố mẹ các cháu nữa!

Thế nào là một mỹ nhân?

In Uncategorized on Tháng Một 23, 2009 at 7:59 sáng

Theo tiêu chí riêng của anh một mỹ nhân phải gồm những tiêu chuẩn gì?

Tôi không hay đặt ra tiêu chuẩn đối với phụ nữ. Từ mỹ nhân nghe hơi cổ, nó gợi cho tôi hình dung về lịch sử, về những câu chuyện tình bi tráng giữa anh hùng và mỹ nhân.

Còn hiện nay, nếu có gọi ai đó là mỹ nhân thì người phụ nữ đó phải đẹp và toát ra vẻ quý phái, sang trọng, mà điều này thường bắt nguồn từ vẻ đẹp tâm hồn. Người ta có thể học đi đứng, ăn nói, giao tiếp, ứng xử… tất cả đều có thể học được trong một thời gian ngắn. Nhưng vẻ đẹp trong tâm hồn, sự tự tin, lạc quan, hay những phẩm chất cao quý khác, nó đến từ cả một quá trình lâu dài với toàn bộ ảnh hưởng của nguồn gốc gia đình, nền giáo dục, môi trường sống. Các cụ ngày xưa chả nói lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống đó thôi. Mỹ nhân là một cách gọi, nó cũng tượng trưng cho vẻ đẹp hoàn mỹ của con người, trong khi thực tế thì con người không ai là hoàn mỹ cả.

Những người phụ nữ như thế nào thì thường gây cảm hứng sáng tác cho anh?

Câu hỏi này thật trùng hợp kỳ lạ, cuốn tiểu thuyết mới nhất của tôi có nhan đề Bóng giai nhân – Trong đó chủ đề chính xoay quanh sự đam mê của nhân vật chính với hình bóng một người đẹp, rất đẹp, suốt quãng đời trai trẻ của anh ta bị hình bóng đó ám ảnh. Nguyên mẫu giai nhân của tôi ngoài đời là một người phụ nữ đẹp sắc sảo, cô ta có vẻ đẹp gần giống với nữ diễn viên Monica Belluci trong phim Malena mà tôi đã xem cách đây vài năm, ngay cả những tình tiết trong phim cũng có vài điểm tương đồng với câu chuyện của tôi. Vào cuối năm 2007, tôi đã bắt tay vào viết Bóng giai nhân , nhân vật nữ của tôi là một phụ nữ đẹp, đa tình, đầy quyến rũ. Những phụ nữ có nét gợi cảm đầy đặn luôn khiến tôi hứng thú để viết về họ. Những người phụ nữ đẹp và đa tình cũng vậy, cuộc sống của họ có nhiều sóng gió, và tất nhiên là cũng nhiều điều thú vị để viết.

Anh thường làm cách nào để “dụ dỗ” nàng thơ đến với mình? Và khi “cô ấy” đến anh ứng xử như thế nào?

Tôi luôn cho rằng công việc viết văn cũng gần giống như chinh phục một người đẹp, trong đó nhà văn phải trở thành một kẻ quyến rũ thôi, không có cách nào khác. Khiến những độc giả say mê đọc truyện của mình cũng khó khăn như chiếm được trái tim người đẹp vậy.

Nếu muốn nàng thơ đến với mình, hãy yêu nàng trước đã, say mê nàng, và từ đó sức mạnh của ngôn từ sẽ đến. Ý tôi muốn nói là hãy sống thật với cảm xúc và nguồn cảm hứng của mình, yêu công việc của mình. Đừng bỏ qua những rung động, đừng nghĩ đến sự an toàn nhiều quá, đừng chờ nàng thơ đến mà hãy đuổi theo nàng. Một khi nàng thơ đã đến, còn ứng xử gì nữa, chỉ còn mỗi việc là làm thơ mà thôi.

Hạnh Đỗ thực hiện.

Người Đẹp VN – Xuân Kỷ Sửu

Nổ tí cho máu!

In Uncategorized on Tháng Một 21, 2009 at 10:37 sáng

Lê Anh Hoài: Thân gửi các bạn nhà văn: Phong Điệp, Nguyễn Đình Tú, Di Li, Cấn Vân Khánh, Đặng Thiều Quang, Trần Nhã Thụy.

Tôi đang viết một bài về việc xuất bản của các nhà văn trẻ, có năng lượng sáng tác dồi dào và có thái độ làm việc chuyên nghiệp. Bài đăng số Tiền phong cuối tuần Tết. Bởi vậy xin gửi một số câu hỏi phỏng vấn tới các nhà văn về công việc liên quan đến văn chương, kể cả (và nhất là) những chuyện bếp núc.

Đây là những câu hỏi có phần chung chung, bởi vậy rất mong các bạn kể những chuyện riêng của mình, kể cả cái mà tôi không (biết để) hỏi.

+ Nhà văn xin cho biết đã xuất bản những tác phẩm nào, thời gian xuất bản? Có ý kiến rằng trong đời một nhà văn, nên làm việc liên tục (viết, xuất bản), nhưng lại có ý cho rằng nhà văn chỉ cần “dồn nén” cảm xúc và chiêm nghiệm của mình vào một tác phẩm “để đời”, anh/ chị nghĩ sao?

– Những tác phẩm đã xuất bản của tôi là tiểu thuyết Hoen gỉ (1996), Tôi và D’Artagnan (2007), Chờ tuyết rơi (2007), Đảo Cát Trắng (2008), và mới nhất là cuốn Bóng giai nhân đã in xong, chưa phát hành (chờ nộp lưu chiểu 2009). Đã là nhà văn thì phải viết chuyên nghiệp, liên tục, toàn tâm toàn ý vào công việc, như thế mới có được sự đam mê và đạt được những kỹ năng cần thiết. Xuất bản là bước tiếp theo, không kém phần quan trọng, là động lực để nhà văn dấn thân vào hành trình gian khổ mà anh ta đã lựa chọn. Không thể nói cả đời tôi chỉ viết một cuốn để đời, trong khi biết đâu anh ta lại có thể viết nhiều cuốn để đời thì sao? Với các nhà văn cuốn sách hay nhất luôn là cuốn sách ở phía trước. Cũng có những nhà văn viết một cuốn tạm coi là đọc được, sau đó tự cảm thấy không vượt qua được chính mình, anh ta dừng cuộc chơi, hoặc theo một cách nói thông dụng thì anh ta mất hứng. Nhưng đó là một lựa chọn không còn đúng nữa, trong hoàn cảnh hiện tại, khi mà nhu cầu đọc và xuất bản vẫn đang tăng lên không ngừng. Dừng lại nghĩa là bị bỏ rơi. Với tôi hứng thú thường đến trong quá trình viết. Hãy viết, cảm hứng sáng tạo sẽ đến.

+ Anh/ chị thường viết vào lúc nào, viết như thế nào (viết nhanh/ chậm, viết có đề cương hay không, viết vất vả, kỹ lưỡng hay viết nhanh rồi sửa sau…) ?

Tôi thường bắt đầu viết vào đêm khuya yên tĩnh, nhưng khi đã vào cuộc tôi viết bất kể ngày đêm, cho tới khi mệt mỏi mới nghỉ ngơi, ngủ vùi, nghe nhạc, đi dạo, uống cà phê, tiếp tục suy ngẫm về câu chuyện, sau đó quay về viết tiếp, hoặc viết ngay tại quán cà phê. Tôi viết nhanh, sửa sau, chỉ cần một vài ý tưởng, hoặc một vài cấu tứ là bắt đầu luôn, không cần đề cương. Thật kỳ lạ, cái khó khăn nhất chính là lúc khởi đầu, trước khi viết, và lúc chuẩn bị sắp kết thúc một câu chuyện, lúc đó nó đã gần như là một cuốn sách, đây là lúc khó khăn nhất, khi phải chia tay một thế giới riêng mà mình đã xây dựng lên.

+ Theo anh/ chị, một cuốn sách thành công là như thế nào (được báo chí nhắc đến nhiều, được giải thưởng, bán chạy…) ?

Nói chung một cuốn sách thành công thì đầu tiên nó phải là một cuốn bán chạy, nó phải đến được với độc giả cái đã, càng nhiều càng tốt. Còn về mặt văn chương mà nói, nó phải là một cuốn sách khiến người ta nhớ đến, nhắc đến nhiều, và có một vị trí riêng trong tủ sách mỗi gia đình. Mặt khác, thường xuyên đó là những cuốn sách khiến đời ta thay đổi.

+ Trong thời buổi văn chương không được xã hội mặn mà, niềm tin và động lực để các anh chị vẫn tiếp tục làm việc viết sách, in sách là gì ?

Xã hội vẫn rất cần những câu chuyện hay. Về bản chất điện ảnh và văn học khá giống nhau, chúng đều kể những câu chuyện, chỉ cách kể và phương tiện truyền tải là khác nhau mà thôi. Hãy nhìn sự trở lại ngoạn mục của các rạp chiếu phim những năm gần đây, để thấy nhu cầu thưởng thức nghệ thuật và giải trí của xã hội. Vậy vấn đề ở đây là cách kể của chúng ta chưa hấp dẫn độc giả, các nhà văn hãy tự tìm ra chìa khóa mở cánh cửa để đến với độc giả. Hãy phá bỏ những rào cản giữa văn chương và giải trí, không nên quá rạch ròi một cách cứng nhắc như vậy. Tôi vẫn tin vào độc giả, tôi biết họ cần gì, và muốn gì ở một cuốn sách.

+ Xin hãy cho biết một vài chuyện “bếp núc” trong khi xuất bản sách của mình (có khó khăn gì không, tốn kém ra sao, nhuận bút thế nào với lần xuất bản đầu và lần tái bản…)?

Năm 2008 là một năm khó khăn với ngành xuất bản, và tôi cũng chịu ảnh hưởng một phần nhỏ trong cái guồng khổng lồ ấy. Lẽ ra cuốn Bóng giai nhân và một loạt cuốn khác phải được in ra từ giữa năm 2008, vậy mà rốt cuộc phải chuyển sang kế hoạch 2009. Tôi hợp tác với nhiều nhà sách, đối tác liên kết của các nhà xuất bản, mỗi nhà sách in một vài cuốn của tôi, họ giữ bản quyền trong thời gian từ một đến hai năm, họ in xong trả nhuận bút cho tôi theo 10% giá bìa nhân với số lượng phát hành, nghe nói đó là quy định chung của nhà nước về mức tối thiểu cho quyền tác giả, tôi không nắm rõ lắm. Nhưng tôi thấy như thế cũng là hợp lý, tôi không phải chi phí gì, chỉ lo phần việc của mình là viết sao cho thật hay. Tất cả những cuốn sách của tôi đều mới in lần đầu, chưa tái bản. Hiện nay cuốn Chờ tuyết rơi bán khá chạy, trên các kệ sách đã hết nhẵn, tôi đang tìm đối tác đứng ra tái bản, bởi hợp đồng bản quyền cuốn này với phía nhà sách Bách Việt đã hết hiệu lực. Nếu có đối tác nào hứng thú, tôi cũng sẽ tái bản Hoen gỉ – cuốn tiểu thuyết đầu tay.

Nhân đây tôi cũng có đôi lời gửi gắm đến các nhà xuất bản và các đối tác liên kết, trước hết xuất phát từ sự quan tâm chia sẻ về những vấn đề khó khăn mà họ đã phải trải qua. Đó là nạn sách lậu, giá giấy tăng cao, nền kinh tế toàn cầu đang có chiều hướng suy thoái, và hiệu ứng ngược từ việc giá dầu giảm… Tất cả những điều đó như một mớ bòng bong, một vòng luẩn quẩn. Theo tôi sách là một mặt hàng đặc biệt, đó là tri thức, là nội dung chứ không phải hình thức, và nó cũng là một nền tảng quan trọng trong những yếu tố quyết định đến nền kinh tế đất nước. Tôi thấy rất nhiều sự lãng phí vô ích khi cầm trên tay những cuốn sách in đẹp đẽ, giá cao ngất, trong khi chẳng ai mua, bởi nội dung nó nghèo nàn, không đáng đọc, không xứng đáng với sự đầu tư đó. Hãy thực dụng hơn, kích cầu văn hóa đọc bằng những yếu tố cạnh tranh mà sách lậu không thể có được, đầu tư vào khâu biên tập và những sản phẩm mũi nhọn thay vì dàn trải, tìm mọi cách hạ giá thành sản phẩm. Sách giá rẻ bỏ túi là một ví dụ.

+ Xin hãy cho biết dự định sáng tác và xuất bản của mình trong năm tới?

Tranh thủ giới thiệu luôn một chút với các độc giả: Tôi đang viết dở một tiểu thuyết nhan đề Vua xứ mù và một truyện dài Sin City (Thành phố tội ác) – lấy cảm hứng từ một bộ phim cùng tên, dự định sẽ kết thúc trong vòng đôi ba tháng nữa, sau đó bắt tay vào chuẩn bị viết một thứ gì đó quy mô hơn, kiểu như bộ tiểu thuyết chẳng hạn, hoặc chuyển thể những cuốn tiểu thuyết của mình thành kịch bản điện ảnh. Bên cạnh đó kế hoạch là sẽ in tiếp tập truyện ngắn Phải lòng , một tập tạp bút Khi ta hai mươi , tái bản Hoen gỉ, và một bộ sách Cẩm nang về kỹ thuật câu cá viết chung với nhiều tác giả khác. Tất cả bản thảo nói trên đều đã gần như hoàn tất, tôi đang tìm nhà sách nào hứng thú thì bắt tay hợp tác. Ngoài ra tôi cũng đang nghiên cứu khả năng viết truyện dài kỳ kết hợp với các họa sĩ đồ họa, để thử nghiệm một thể loại truyện tranh dành cho người lớn. Nghe thì thấy có vẻ quá tham vọng, nhưng đó là sự thực. Tôi sẽ thử sức hết mình.

PS: Chiều nay đi mua tờ báo TP cuối tuần số tết, khi lên báo lược gọn lại nhiều, trên đây là nguyên bản. Lê Anh Hoài gọi mình là người “tử vì đạo”. Hehe, nghe điên cuồng nhảy trên xuồng nhỉ!

Tiền Phong

Nhân trường hợp anh Obama

In Uncategorized on Tháng Một 20, 2009 at 12:43 chiều

Nhân lễ nhậm chức của anh Obama, CNN và Facebook bắt tay nhau cung cấp cho nhân dân xem trực tuyến, các bạn xem tại đây, hay phết! Facebook của tớ đây – chưa kịp viết lách gì, đang tìm hiểu. Vietnamnet cũng đưa tin về vụ này. Nói chung là xem rất thú vị, sống động, bởi người xem có thể lựa chọn stream mình thích với các góc máy quay khác nhau, âm thanh sống động, như mình đang ở ngay đó. Ngoài ra có thể tham gia bình luận, chia sẻ hình ảnh… Chất lượng ngon, xem không bị giật, tốc độ khá nhanh!

Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket

BÀI PHÁT BIỂU NHẬM CHỨC CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA – 20 THÁNG GIÊNG, 2009.

Bản dịch của Phạm Tuấn Anh – tức Gấu TNXM (Gấu, Gaup, Washington DC, gaupvn@gmail.com)

Nguồn: http://abcnews.go.com/print?id=6689022

Thưa các bạn công dân:

Tôi đứng ở đây hôm nay cảm thấy mình nhỏ bé trước nhiệm vụ mà chúng ta phải đối diện, cảm thấy biết ơn niềm tin mà các bạn đã trao cho tôi, và ý thức được những sự hy sinh mà cha ông chúng ta đã phải gánh chịu. Tôi cảm ơn Tổng thống Bush về sự phụng sự quốc gia của ông, cũng như sự hợp tác và sự rộng lượng mà ông đã cho chúng ta thấy trong giai đoạn chuyển tiếp.

Bốn mươi tư người Mỹ đã nói lời tuyên thệ nhậm chức tổng thống. Những lời thề này đã từng được nói lên trong những thời thịnh vượng dâng cao và hòa bình ngự trị. Nhưng lời thề này cũng thường được nói giữa những lúc mây đen bão cả. Vào những lúc đó, nước Mỹ có thể vững bước đi tiếp không đơn giản chỉ vì kỹ năng hay viễn kiến của những người lãnh đạo cao nhất của đất nước, mà bởi vì Chúng ta như một Dân tộc đã luôn trung thành với những lý tưởng của tiền nhân, và luôn làm đúng theo tôn chỉ lập quốc.

Điều này trước nay đã là như thế. Với thế hệ người Mỹ hiện giờ nó cũng sẽ phải là như thế.

Việc chúng ta hiện đang ở giữa một cuộc khủng hoảng là một điều chúng ta hiểu rõ. Đất nước chúng ta đang ở trong một cuộc chiến chống lại một mạng lưới bạo lực và hận thù lan rộng. Nền kinh tế của chúng ta bị suy yếu nặng nề, hậu quả của cả lòng tham và sự vô trách nhiệm của một số người, nhưng cũng là hậu quả của sự thất bại chung của chúng ta khi có những lựa chọn khó khăn và khi chuẩn bị cho đất nước của chúng ta bước vào một thời đại mới. Người ta đã bị mất nhà, mất việc; các doanh nghiệp bị đóng cửa. Chi phí y tế của chúng ta quá cao; trường học của chúng ta không đáp ứng được việc học của quá nhiều người; và mỗi ngày mới lại mang đến thêm những bằng chứng mới rằng cách chúng ta sử dụng năng lượng làm tồi tệ hơn những khó khăn của chúng ta và đe dọa hành tinh của chúng ta.

Đây là những chỉ dấu của khủng hoảng, dù rằng để biết chắc chúng ta còn phải có số liệu và các chỉ tiêu thống kê. Một điều khác khó định lượng nhưng không kém phần quan trọng là sự suy giảm lòng tin trên khắp đất nước – nỗi sợ dai dẳng rằng sự sụt giảm vị thế của nước Mỹ là không thể tránh khỏi, và rằng thế hệ kế tiếp cần phải hạ thấp những kỳ vọng của họ.

Hôm nay tôi nói với các bạn rằng những thách thức mà chúng ta phải đối mặt là có thật. Những thách thức này có nhiều và nghiêm trọng. Vượt qua những thách thức này không phải là việc dễ dàng có thể làm trong một khoảng thời gian ngắn. Nhưng xin hãy biết điều này, hỡi nước Mỹ – những thách thức này chắc chắn chúng ta sẽ vượt qua. Ngày hôm nay, chúng ta cùng có mặt ở đây là vì chúng ta đã lựa chọn hy vọng chứ không phải sợ hãi, sự đoàn kết về mục đích chứ không phải mâu thuẫn và bất đồng.

Ngày hôm nay, chúng ta đã đến để cùng tuyên bố kết thúc thời của những lời phàn nàn lặt vặt và những lời hứa trống rỗng, những lời lẽ cáo buộc tranh tụng và những thứ giáo điều cũ mèm, những thứ mà đã quá lâu nay bóp nghẹt nền chính trị của chúng ta.

Chúng ta vẫn là một đất nước trẻ tuổi, nhưng như trong Thánh Kinh có nói, là đã đến lúc bỏ những trò con trẻ qua một bên. Đã đến lúc chúng ta cùng khẳng định tinh thần bất diệt của chúng ta; lựa chọn một lối đi lịch sử tốt hơn; để mang lên phía trước món quà quý giá, ý tưởng cao cả đã được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác: lời hứa của đấng Sáng tạo rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, đều tự do, và đều xứng đáng được có cơ hội mưu cầu trọn vẹn hạnh phúc của họ.

Khi tái khẳng định sự vĩ đại của đất nước của chúng ta, chúng ta cùng hiểu rằng sự vĩ đại không bao giờ là một thứ tự nhiên mà có. Người ta phải phấn đấu để có được nó. Hành trình của chúng ta chưa bao giờ là một hành trình của những ngõ tắt, hay chấp nhận chín bỏ làm mười. Hành trình đó chưa bao giờ là con đường dành cho những người hèn nhát – những người thích nghỉ ngơi hơn là lao động, hay những ngư
ời chỉ tìm kiếm khoái cảm từ của cải và danh tiếng.

Ngược lại, con đường chúng ta đi là của những người dám chấp nhận rủi ro, những người dám làm, những người sáng tạo ra mọi vật – một vài người trong số đó được nổi tiếng tôn vinh nhưng khuôn mặt của đa số còn lại bị phủ khuất sau những nỗ lực lao động của họ, những người này đưa chúng ta tiến lên trên một con đường dài, gian khó tiến tới thịnh vượng và tự do.

Vì chúng ta, họ đã đóng gói chút tài sản ít ỏi và vượt qua các đại dương đi tìm cuộc đời mới.

Chính vì chúng ta, họ đã làm việc cật lực trong những xưởng thợ và định cư ở miền Tây; chịu đựng roi quất lên thân mình và xới cầy đất cứng.

Chính vì chúng ta mà họ chiến đấu và thiệt mạng, ở những nơi như Concord và Gettysburg; Normandy và Khe Sanh.

Hết lúc này qua lúc khác những người đàn ông và đàn bà này đã đấu tranh và hy sinh và lao động cho tới lúc bàn tay họ sưng tấy chỉ để chúng ta có được một đời sống tốt đẹp hơn. Họ nhìn thấy nước Mỹ lớn hơn là chỉ một tổng số của những tham vọng cá nhân; vĩ đại hơn mọi sự khác biệt về xuất thân hay tài sản hay phe nhóm.

Đây chính là cuộc hành trình mà hôm nay chúng ta tiếp tục đi. Chúng ta tiếp tục là đất nước mạnh mẽ nhất, thịnh vượng nhất trên Trái Đất. Vào lúc này nhân công của chúng ta có năng suất không kém gì trước khi cuộc khủng hoảng này bắt đầu. Trí tuệ của chúng ta không kém phần sáng tạo, hàng hóa và dịch vụ của chúng ta được người ta cần đến không kém gì tuần trước hay tháng trước hay năm trước. Năng lực của chúng ta không hề sút giảm. Nhưng cái thời mà chúng ta đứng chỉ tay, thời bảo hộ cho những lợi ích hẹp hòi và thời trì hoãn những quyết định khó khăn – cái thời đó chắc chắn là đã qua rồi. Bắt đầu từ ngày hôm nay, chúng ta cần phải nâng mình đứng dậy, rũ bụi khỏi người, và bắt đầu công trình tái tạo nước Mỹ. Bởi vì bất kỳ ở đâu chúng ta nhìn thì ở đó đều có việc phải làm. Hiện trạng của nền kinh tế đòi hỏi phải có hành động, hành động phải nhanh và mạnh mẽ, và chúng ta sẽ hành động – không phải chỉ để tạo ra công việc mới mà còn để tạo ra nền móng mới cho tăng trưởng. Chúng ta sẽ xây đường và xây cầu, xây lưới điện và những đường truyền số liệu giúp nuôi sống nền thương mại của chúng ta và giúp gắn bó chúng ta. Chúng ta sẽ khôi phục vị trí xứng đáng của nền khoa học, và dùng những phép mầu của công nghệ để nâng cao chất lượng và giảm chi phí của y tế. Chúng ta sẽ nắm bắt năng lực của mặt trời và gió và đất để vận hành xe hơi và công xưởng của chúng ta. Và chúng ta sẽ biến đổi trường học và trường đại học của chúng ta để đáp ứng được những nhu cầu của một thời đại mới. Tất cả những điều này chúng ta đều có thể làm. Và tất cả những điều này chúng ta đều sẽ làm.

Phải nói rõ là sẽ có vài người đặt câu hỏi về tầm vóc những tham vọng của chúng ta, họ cho rằng hệ thống của chúng ta không đủ sức nâng đỡ quá nhiều kế hoạch lớn.

Trí nhớ của họ có lẽ không đủ dài. Bởi vì họ đã quên những gì đất nước này đã từng làm; những gì mà những người đàn ông và đàn bà tự do có thể đạt được khi trí tưởng tượng được gắn kết vào với một mục đích chung, và khi sự cần kíp được gắn kết vào với lòng can đảm.

Điều mà những người hoài nghi này không hiểu được là việc đất đã dịch chuyển dưới chân họ – rằng những tranh biện chính trị cũ kỹ làm mất thời gian của chúng ta bao lâu nay giờ không còn áp dụng được nữa. Hôm nay câu hỏi chúng ta hỏi không phải là chính quyền của chúng ta như thế là quá to hay quá nhỏ, mà là chính quyền có vận hành tốt không – liệu chính quyền có giúp đỡ các gia đình tìm được việc làm với mức lương hợp lý, sự chăm sóc sức khỏe mà họ có đủ tiền trả, một thời hưu trí mà trong đó người ta bảo lưu được phẩm giá của mình. Những chỗ nào câu trả lời là có thì chúng ta sẽ cố tiến lên thêm nữa. Những chỗ nào câu trả lời là không, thì các chương trình phải ngưng lại. Và những người nào trong số chúng ta có trách nhiệm quản trị những khoản tiền công cộng sẽ bị buộc phải gắn bó trách nhiệm – phải chi tiêu khôn ngoan, sửa đổi những thói quen xấu, phải làm mọi việc công minh như trong ánh sáng ban ngày – bởi vì chỉ có như thế thì chúng ta mới có thể khôi phục được lòng tin có tầm quan trọng sống còn giữa người dân và chính quyền của họ.

Câu hỏi bây giờ chúng ta hỏi cũng không phải là câu hỏi về việc thị trường là một thế lực tốt hay xấu. Năng lực của thị trường trong việc tạo ra của cải và mở rộng quyền tự do là không gì sánh nổi, nhưng cuộc khủng hoảng này lại gợi nhớ cho chúng ta rằng nếu không bị đặt dưới con mắt kiểm soát thì thị trường có thể lao ra khỏi vòng kiểm soát – và rằng một quốc gia không thể làm giầu được lâu nếu nó chỉ ưu tiên những người giầu có.

Sự thành công của nền kinh tế của chúng ta từ trước đến nay luôn phụ thuộc không phải vào kích thước của Tổng Sản lượng Quốc gia của chúng ta, mà phụ thuộc vào tầm với của sự thịnh vượng của chúng ta; vào khả năng của chúng ta mang cơ hội đến cho mọi trái tim sẵn sàng cố gắng – không phải vì lòng từ thiện mà vì đó là con đường chắc chắn nhất đạt tới sự thịnh vượng của chung chúng ta.

Về vấn đề tự vệ chung, chúng ta gạt bỏ cách đặt vấn đề tự vệ như là một lựa chọn giữa sự an toàn của chúng ta và những lý tưởng của chúng ta. Những Bậc Khai Quốc của chúng ta, khi đối mặt với những hiểm nguy mà giờ chúng ta khó có thể tưởng tượng nổi, đã thảo ra một hiến chương bảo đảm nền pháp trị và quyền con người, một hiến chương được mở rộng ra bằng máu của nhiều thế hệ. Những lý tưởng đó hôm nay vẫn còn chiếu sáng cho thế giới, và chúng ta sẽ không bỏ rơi những lý tưởng đó chỉ vì lợi riêng của chúng ta.

Và tôi muốn nói tới một dân tộc và mọi chính quyền hôm na
y đang theo dõi thời khắc này của chúng ta, từ những thủ đô vĩ đại nhất cho tới ngôi làng nhỏ nơi cha tôi đã sinh ra: rằng nước Mỹ là bạn của mọi quốc gia và của mọi người đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ tìm kiếm một tương lai của hòa bình và phẩm giá, và rằng chúng tôi đã lại sẵn sàng để một lần nữa làm người dẫn đường.

Hãy nhớ lại rằng những thế hệ trước đây đã hạ bệ chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa XX (cs J) không phải chỉ với hỏa tiễn và xe tăng, mà còn cả với những khối liên minh vững chắc và những niềm tin không lay chuyển. Họ hiểu rằng chỉ mình sức mạnh của chúng ta thì không đủ để bảo vệ chúng ta, cũng không đủ để cho chúng ta cái quyền muốn hành xử thế nào tùy ý. Thay vào đó, họ biết rằng sức mạnh của chúng ta sẽ lớn lên thông qua việc sử dụng nó một cách khôn ngoan; sự an toàn của chúng ta đến từ sự công minh trong lý tưởng của chúng ta, năng lực của những ví dụ chúng ta thực hiện làm gương, những phẩm chất được tôi luyện của sự khiêm nhã và kiềm chế.

Chúng ta là những người có trách nhiệm gìn giữ di sản này. Được chỉ dẫn bởi chính những nguyên tắc này một lần nữa, chúng ta có thể đối mặt với những mối đe dọa đòi hỏi những nỗ lực còn lớn hơn trước nữa – và cả sự hợp tác, sự thông hiểu lớn hơn nhiều nữa giữa các quốc gia. Chúng ta sẽ khởi đầu bằng việc rút lui một cách có trách nhiệm, trả lại Iraq cho cư dân của nó, và kiến tạo một nền hòa bình đắt giá ở Afghanistan. Với những người bạn cũ và cả cựu thù, chúng ta sẽ làm việc không mệt mỏi để làm giảm mối đe dọa hạt nhân, và quay ngược lại nhiệt kế của một hành tinh đang ấm dần lên. Chúng ta sẽ không phải xin lỗi ai về lối sống của chúng ta, và chúng ta cũng sẽ không lơi là bảo vệ lối sống đó, và đối với những kẻ đang cố cổ võ cho mục đích của chúng bằng khủng bố và giết hại người vô tội, chúng ta nói với các người rằng ý chí của chúng ta giờ mạnh mẽ hơn và không thể nào bị bẻ gẫy; các người sẽ không thể tồn tại lâu hơn chúng ta, và chúng ta sẽ đánh bại các ngươi.

Bởi vì chúng ta biết rằng di sản ghép nhặt của chúng ta là một sức mạnh chứ không phải là một điểm yếu. Chúng ta là một đất nước của người Thiên Chúa giáo và người Hồi giáo, của người Do thái giáo và người Ấn độ giáo, và của cả những người vô thần. Chúng ta được định hình bởi mọi ngôn ngữ và mọi nền văn hóa, được lấy từ mọi miền Trái Đất; và bởi vì chúng ta đã nếm trải vị đắng của nội chiến và sự chia rẽ phân biệt, và đã vươn mình lên từ thời đen tối đó mạnh mẽ hơn và đoàn kết hơn, chúng ta không thể không tin được rằng những hận thù cũ một ngày nào đó sẽ biến mất; những ranh giới bộ lạc sẽ bị xóa nhòa; và rằng khi thế giới trở nên nhỏ hơn thì cái gốc nhân ái chung của chúng ta sẽ hiện ra; và rằng nước Mỹ phải đóng một vai trò trong việc đón chào kỷ nguyên mới của hòa bình.

Đối với thế giới Hồi giáo, chúng ta tìm kiếm một con đường mới để tiến lên, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau. Đối với những lãnh đạo trên khắp địa cầu đang muốn gieo hạt mâu thuẫn, hay đổ lỗi cho những phương Tây là gây ra những tệ nạn trong xã hội của họ – họ cần biết rằng nhân dân của họ sẽ phán xét họ dựa trên những gì họ có thể xây dựng nên chứ không phải những gì họ có thể phá đi. Đối với những người đeo bám lấy quyền lực thông qua những phương cách tham nhũng và lừa dối và sự bịt miệng những tiếng nói phản kháng, hãy biết rằng các vị đang đi ở bên lề trái của lịch sử; nhưng chúng tôi sẵn sàng đưa sang một bàn tay nếu như các vị sẵn lòng nới lỏng nắm đấm.

Đối với những người ở các nước nghèo, chúng tôi hứa sẽ làm việc cạnh các bạn để giúp cho đồng ruộng của các bạn sinh sôi và nước sạch có thể chảy; để cấp dưỡng cho những cơ thể đói ăn và những tâm hồn đói kiến thức. Và đối với những đất nước như đất nước của chúng ta đây có điều kiện đời sống no đủ, chúng ta nói rằng chúng ta không thể nào tiếp tục duy trì sự thờ ơ với những cảnh sống đau khổ bên ngoài biên giới của chúng ta nữa; và chúng ta cũng không thể tiếp tục tiêu thụ những nguồn tài nguyên của thế giới mà không thèm để ý gì tới hậu quả của việc đó. Bởi chưng thế giới đã thay đổi, và chúng ta phải thay đổi cùng với nó.

Khi chúng ta khảo sát con đường đang hiện ra trước mắt, chúng ta nhớ với lòng biết ơn ngưỡng vọng tới những người Mỹ can đảm, vào chính giờ khắc này, đang tuần tra những nơi sa mạc và núi non xa xôi. Họ có điều gì để nói với chúng ta hôm nay, giống như những vị anh hùng tử sĩ nằm bên nghĩa trang Arlington thì thầm qua nhiều năm tháng. Chúng ta tôn vinh họ không phải chỉ vì họ bảo vệ cho tự do của chúng ta, mà còn bởi vì họ là hiện thân của một tinh thần phụng sự; một sự sẵn lòng tìm kiếm ý nghĩa của đời sống trong một điều gì đó vĩ đại hơn chính bản thân họ. Và chính đó, vào chính thời điểm này – một thời điểm sẽ định hình cả một thế hệ – cái tinh thần phụng sự đó phải là tinh thần tràn đầy tâm trí mỗi chúng ta.

Bởi vì dù chính quyền có thể làm và phải làm nhiều tới đâu thì cuối cùng đất nước này vẫn phụ thuộc vào niềm tin và sự quyết tâm của những con người Mỹ. Chính là cái sự tử tế cưu mang người lạ khi đê bao chắn nước bị vỡ, sự vô tư bất vị thân của những người thà phải cắt ngắn bớt giờ làm còn hơn phải thấy một người bạn bị mất việc đã giúp chúng ta đi qua được những giờ phút đen tối. Chính là sự can đảm của người lính cứu hỏa lao mình vào cầu thang tràn ngập khói, và cả sự sẵn lòng của một người cha mẹ đơn thân tự nuôi đứa con của mình, quyết định số phận của chúng ta.

Những thử thách của chúng ta có thể mới. Những công cụ chúng ta dùng để đối mặt và vượt qua thử thách có thể mới. Nhưng những giá trị mà sự thành công của chúng ta phụ thuộc vào – sự cần cù và tính trung thực, sự can đảm và tinh thần chơi đẹp, sự bao dung và sự tò mò ham học, lòng trung và tinh thần ái quốc – những giá trị đó đ
u là cũ. Những điều này đều là thật. Chúng ta đã sức mạnh tiến bộ âm thầm trong suốt chiều dài lịch sử của chúng ta. Điều nhất thiết phải làm là phải quay lại với những sự thật này. Điều mà chúng ta được đòi hỏi bây giờ là một kỷ nguyên mới của trách nhiệm – một sự nhận thức của mỗi cá nhân người Mỹ rằng chúng ta có nghĩa vụ với chính bản thân chúng ta, với đất nước của chúng ta, và với thế giới, những nghĩa vụ không phải chúng ta lầm lì buộc phải chấp nhận mà là những nghĩa vụ chúng ta vui mừng nắm lấy, đứng vững trong hiểu biết rằng không có gì thỏa mãn tốt hơn cho tâm hồn, không có gì tôi luyện tốt hơn cho tính cách, là trao trọn bản thân chúng ta cho một nghĩa vụ khó khăn.

Đây là cái giá và lời hứa của quốc tịch.

Đây cũng là nguồn của sự tự tin của chúng ta – sự hiểu biết rằng Chúa Trời giao cho chúng ta phần trách nhiệm định hình một số phận bất định.

Đây là ý nghĩa của sự tự do và tín điều của chúng ta – là lý do tại sao những người đàn ông và đàn bà và trẻ nhỏ của mọi chủng tộc và mọi tín ngưỡng có thể cùng về đây chung vui trên công trường tuyệt đẹp này, và đó là lý do tại sao mà một con người mà cha của người đó mới 60 năm trước đây có thể đã không được phục vụ tại một tiệm ăn địa phương giờ lại được đứng ở đây trước các bạn để nói lời tuyên thệ thiêng liêng nhất như thế này.

Vì thế xin hãy đánh dấu ngày này với một sự ghi nhớ, về việc chúng ta là ai và chúng ta đã đi được bao xa. Trong năm nước Mỹ khai sinh, trong những tháng mùa đông lạnh nhất, một nhóm những người yêu nước đã túm tụm lại bên những đống lửa đang tắt dần trên bờ một con sông đóng băng. Thủ đô đã bị tiêu thổ. Kẻ thù đang tiến đến. Tuyết trắng trộn lẫn với máu đỏ. Vào một thời điểm mà thành quả của cuộc cách mạng của chúng ta bị nghi ngờ trầm trọng nhất, người cha của đất nước của chúng ta đã ra lệnh gửi những lời sau tới cho dân chúng:

“Hãy để thế giới tương lai được biết…rằng trong cảnh khốn cùng của mùa đông, khi không còn gì có thể sống sót ngoài niềm hy vọng và đức tin…rằng thành phố và nông thôn, cùng bị đánh động bởi một mối nguy chung, đã cùng đứng lên để đối đầu với [nó].”

Hỡi nước Mỹ. Đối diện với những mối nguy chung của chúng ta, trong mùa đông này của sự gian khó, chúng ta hãy cùng nhớ tới những lời lẽ bất tử này. Với hy vọng và đức tin, chúng ta hãy cùng nhau một lần nữa đi ngược lại những dòng chảy băng giá, và chịu đựng những cơn bão sắp tới. Hãy để con cháu của con cháu chúng ta nói rằng khi bị thử thách chúng ta đã từ chối không chịu kết thúc con đường chúng ta đi, rằng chúng ta đã không quay đầu lại và không nhu nhược; và với ánh mắt của chúng ta nhìn như gắn vào đường chân trời và ân điển của Chúa Trời trên vai ta, chúng ta đã mang tiếp đi món quà vĩ đại là sự tự do để giao nó an toàn tới cho các thế hệ tương lai.

Hành trình đi tìm cá sỉnh

In Uncategorized on Tháng Một 20, 2009 at 8:14 sáng

Từ nghệ thuật ẩm thực Tây Bắc…

Nghệ thuật ẩm thực của người Thái vùng Tây Bắc xưa nay vốn nổi tiếng với những món ăn được chế biến khéo léo và tinh tế, trong đó các món ăn từ cá chiếm một vị trí quan trọng. Nói đến cá sông, ta có thể kể ra những loài cá nổi tiếng ngon và quý như cá anh vũ, cá chiên, cá lăng, cá nheo…

Nhưng có lẽ còn ít người biết đến những loại cá suối đặc biệt, tuy rằng về thực chất một số loài có thể sống lẫn ở cả sông lẫn suối, trong những thời gian nhất định chúng di chuyển từ sông lên thượng nguồn những con suối, hoặc ngược lại, chúng di chuyển tùy thuộc vào mùa sinh sản hoặc các yếu tố khác như thời tiết, con nước, nguồn thức ăn…

Cá sỉnh là một loài cá đặc biệt như thế. Theo sách đỏ Việt Nam, tên đầy đủ của loài cá này là cá sỉnh gai, ưa sống ở nơi nước xiết, mình thon dài, đầu nhỏ, vẩy trắng, lăn tăn như hoa bạc, hai bên lườn ánh xanh. Con to thì bằng bàn tay, còn thường chỉ bằng hai hoặc ba ngón tay, thịt chắc và ngọt đậm, thơm, xương ít và mềm.

Người Thái gọi cá sỉnh là pa khính (cá khính). Từ pa khính người Thái chế biến thành rất nhiều món ăn nổi tiếng, ví dụ như:

– Món pa chen: Cá rán hai lần, chấm với nước chấm trộn chanh, gừng, ớt, hạt cây rừng (sử dụng một trong ba loại hạt là: hạt sẻn, hạt dổi, hoặc hạt mắc khén, hơi giống hạt tiêu, rất thơm, bà con vùng núi và trung du ưa dùng trong các món ăn, nhất là món nướng và đồ chấm).

– Món pa pỉnh tộp: Cá sỉnh ướp gừng, sả, hành, ớt, hạt cây rừng, gia vị, gập đôi kẹp các loại rau thơm ở giữa rồi cặp tre nướng than, ăn nóng với cơm gạo mới hoặc xôi nếp Tú Lệ là hợp vị nhất.

– Món pa mọ: Cá sỉnh ướp với hạt cây rừng, ớt, sả, gừng. Lấy hoa chuối rừng thái mỏng, ngâm nước cho sạch nhựa rồi trộn đều với gia vị, đặt cá vào giữa, rắc nộm hoa chuối xung quanh rồi lấy hai chiếc bẹ hoa chuối già làm áo, buộc kỹ và đồ chín bằng chõ. Khi chín rắc thêm vừng, lạc giã nhỏ, ăn nóng. Vị bùi thơm của hoa chuối hòa cùng hương vị của cá và các gia vị cây rừng kích thích vị giác, rất lạ miệng.

– Món pa sủm: Cá sỉnh ướp riềng và thính gạo, muối vừa đủ, để 2-3 ngày, lúc này cá Sỉnh có mùi thơm và vị chua, có thể om lửa nhỏ cho đến khi cá cứng lại, hoặc nấu canh măng chua. Món này rất đưa cơm, làm mồi nhắm rượu rất ngon và lâu say.

– Món pa giảng: Cá sỉnh mổ sạch ướp ớt, hạt cây rừng, gừng, sấy trên bếp lửa khói cho khô, để dành. Khi ăn có thể nướng qua hoặc đem chế biến tùy ý.

– Món pa pho: Là món cá sỉnh ướp gia vị, gừng, hạt cây rừng, ớt, gói lá dong vùi than, ăn nóng, hương vị thơm ngon rất đặc biệt.

– Món pa lạp: Một cách dễ hiểu, đây là món gỏi cá. Đầu tiên mổ cá làm sạch, không để dính nước, sau đó lột da, thấm vào thính gạo nếp hoặc dùng giấy ăn thấm cho khô hết nước và lạng lấy thịt, thái mỏng, ngâm vào nước măng chua đặc, hay nước chua được chế biến từ lá hoặc quả dâu da xoan giã nhỏ, để cá được chín tái. Nếu không có nước chua thì thay thế bằng nước chanh vắt. Sau chừng mươi phút cá được vớt ra vắt cho ráo nước, trộn với các loại gia vị như ớt, gừng tươi, vừng rang, thính gạo và các loại lá cho dậy mùi thơm rồi bày ra đĩa, bên trên có rắc ít da cá đã được nướng giòn bóp vụn.

– Món pa lam: Cá sỉnh làm sạch khía chéo ướp gừng, sả, hành, ớt, hạt cây rừng, gia vị, sau đó cho vào ống nứa, nút lá, nướng than hoặc vùi tro. Khi ăn chẻ một phần cây nứa, gỡ từng miếng cá còn nóng hổi bốc khói, ăn với cơm lam nữa thì ngon tuyệt vời!

– Món nậm pịa: Cá sỉnh mổ lấy ruột không để dính nước đem chưng với hành, gừng, ớt, hạt rừng. Khi nướng cá người ta có thể lấy nậm pịa phết lên, miếng cá sẽ dẻo và thơm ngon hơn. Với những người sành ăn, cá sỉnh mà thiếu nậm pịa thì coi như mất hết cái thú vị khoái khẩu. Đây là món được làm ra chủ yếu để chấm cá, nhưng cũng có thể đem ăn với cơm hoặc chấm các món khác đều ngon.

Không chỉ người Thái, mà nói chung hầu hết bà con các dân tộc miền núi phía Tây Bắc nước ta cũng đều yêu thích món ăn từ cá sỉnh. Người H’Mông ở Sa Pa chẳng hạn, họ vẫn đánh bắt cá sỉnh ở suối Đum, suối Bo, đem sấy gác bếp làm thức ăn dự trữ và đãi khách quý. Ngày nay đến Sa Pa, du khách vẫn có thể mua ở phiên chợ những kẹp cá sỉnh hun khói mang về làm quà. Suối Đum chảy từ Sa Pa ra sông Hồng, mùa đông nước trong vắt và lạnh buốt, là nơi cá sỉnh rất ưa thích cư ngụ. Người Lao Cai xưa kia có câu “Muốn ăn cá sỉnh lên bến ông Thỉnh” – Chẳng là bến nước gần nhà ông Thỉnh bên dòng suối Đum nổi tiếng nhiều cá sỉnh. Xuôi về thị xã Cam Đường có suối Ngòi Đường chảy từ dãy núi Hoàng Liên , xuyên qua làng Dạ, làng Nhớn, làng Chiềng… dòng suối này cũng nổi tiếng nhiều cá sỉnh, là niềm tự hào của người Dao, người Dáy sinh sống dọc con suối. Xuôi nữa về Yên Bái và Phú Thọ có Ngòi Lao và Ngòi Lâu chảy ra sông Hồng cũng có cá sỉnh, tuy cá không nhiều bằng những con suối ở Lao Cai. Suối Nậm Mu chảy từ Than Uyên về sông Đà và các suối nhỏ thuộc lưu vực của nó cũng có cá sỉnh. Ở huyện Phù Yên có rất nhiều con suối có cá sỉnh, người Mường sống dọc suối rất có ý thức giữ gìn nguồn cá này, họ đánh bắt cá hạn chế vừa đủ nhu cầu sử dụng, vì thế cá sỉnh vẫn còn khá nhiều. Cuối cùng, nổi tiếng nhất là cá sỉnh ở dòng Nậm Thia – Văn Chấn, và ở một số sông suối Điện Biên như sông Mường Mươn, Pa Thơm, Nậm Pộ…

Cho đến hành trình đi câu cá sỉnh…
Trong các câu lạc bộ (CLB) câu cá thì nhóm CLB ở Điện Biên câu cá sỉnh thành thạo và nhiều kinh nghiệm nhất. Sau mùa lũ, khi nước trên các sông suối trong trở lại, trời trở lạnh, là lúc bắt đầu mùa câu cá sỉnh. Những người câu cá ở Điện Biên thích nhất đi câu cá sỉnh, họ chờ đợi cả năm dịp này, vì mùa câu cá sỉnh chỉ vỏn vẹn trong mấy tháng mùa lạnh, nước trong, cá sỉnh ngược dòng lên thượng nguồn để sinh sản. Khi mùa mưa đến, chúng xuôi về hạ lưu, và sau đó biến mất một cách khó hiểu. Những người sống bằng nghề chài lưới ở cả thượng lưu và hạ lưu sông suối vào các thời điểm khác trong năm hầu như không bao giờ đánh bắt được loài cá này. Ở Điện Biên
hiện nay, để bảo vệ loài cá quý này không bị mai một, các thành viên CLB câu cá có một quy ước chung với nhau khi đi câu cá sỉnh chỉ mang theo giỏ cá nhỏ, câu đầy giỏ đủ đưa cay là dừng câu và quay về, bất kể cá có nhiều đến đâu đi nữa.

Cuối năm 2008 chúng tôi đã được tham gia một buổi dã ngoại câu cá sỉnh như thế ở dòng Nậm Pộ thuộc xã Chà Cang, huyện Mường Nhé, cách thành phố Điện Biên 140 km về phía Tây Bắc. Khởi hành từ Điện Biên lúc 2h sáng, cho đến 6h sáng thì tới nơi, dòng suối Nậm Pộ trong lành tuyệt đẹp hiện ra trong làn sương sớm. Khi mặt trời lên, những đàn cá sỉnh và cá chát (pa chát) nháng loang loáng ánh bạc dưới làn nước trong vắt. Cá chát có hình dáng rất giống cá sỉnh, nhưng không có ánh xanh hai bên lườn, mắt không có viền đỏ, và thịt không ngon bằng cá sỉnh. Ở một số địa phương, cá này được gọi là cá sản. Cá sản và cá sỉnh bơi ngược dòng nước, nhưng thường chúng bơi bằng đúng tốc độ dòng chảy nên từ trên bờ ta nhìn thấy như thể chúng đang “đứng im”, thi thoảng phát hiện ra thức ăn trôi nổi trong dòng nước chúng láng qua láng lại đớp mồi, khi đó cái bụng và những vảy màu bạc bắt ánh sáng loang loáng, trông rất ngoạn mục.

Cá chày mắt đỏ người Thái gọi là pa tết, loài cá này khá phàm ăn, chúng tôi câu ngay lên được vài con khá to. Nhưng cuộc săn lùng cá sỉnh (pa khính) vẫn là hào hứng nhất. Đoàn câu hôm đó lên đến gần bốn mươi người, nhóm xuôi dòng, nhóm ngược dòng, câu lên vô số cá suối. Những người dạn dày kinh nghiệm ở Điện Biên luôn câu được nhiều cá và cá to nhất, họ đi rất xa về phía thượng nguồn. Cá sỉnh thường chỉ bằng hai hoặc ba ngón tay, dài khoảng 20cm, trọng lượng loanh quanh một vài lạng. Con cá sỉnh kỷ lục do anh Nguyễn Anh Tuấn chủ nhiệm CLB câu cá Âu Lạc ở Điện Biên câu được nặng hơn một ký lô, chưa từng có ai vượt qua được kỷ lục này.

Con cá sỉnh ưa sống ở nơi thác ghềnh, nước luôn giàu ô xy, chúng bơi nhanh và rất khỏe, có thể vượt những thác nước xiết tung bọt trắng xóa. Khi dính lưỡi câu chúng đem sử dụng hết năng lượng dự trữ để cố gắng thoát thân, vì thế khi ta câu một con cá sỉnh đôi ba lạng mà cảm giác ngỡ như chúng phải nặng đến hàng ký, vì lực kéo chúng gây ra tương đương với những con cá to vài ký ở hồ như chép, trôi, trắm… Với cá sỉnh trưởng thành, chúng có thể cầm cự được với người câu chừng đôi ba phút, nếu cố tình lôi bằng được con cá lên thì rất có thể sẽ bị đứt cước hoặc thậm chí gãy cần câu. Nhưng nếu người câu biết cương nhu hợp lý, qua vài phút đó, do đốt cháy hết năng lượng dự trữ, cá sỉnh mau chóng kiệt sức và đầu hàng. Khi đó việc lôi chú cá sỉnh lên bờ không mấy khó khăn.

Cần câu cá sỉnh thường dài từ 6,3 m cho đến 7,2 m làm bằng chất liệu chủ yếu là sợi carbon, nhẹ và dẻo dai, thậm chí một số cây cần có thể uốn thành hình chữ O mà vẫn không gãy, được cấu tạo dạng ống lồng giống như ăng ten, khi thu gọn lại chỉ còn khoảng 70 cm, thuận tiện khi mang đi xa và di chuyển ở địa hình hiểm trở. Cần câu càng nhẹ càng được ưa thích, thường là có trọng lượng từ 200 gram đến 300 gram. Cước câu dùng dây nilon đường kính cỡ 0,16 mm là vừa, nếu sử dụng cước lớn hơn cá cũng ăn mồi nhát hơn. Về mặt lý thuyết cước cỡ này chịu lực tới trên 3 kg, đủ để giữ cá, vả lại gặp cá to không ai nhấc thẳng cá lên bờ mà sẽ dìu cá vào bờ cát thoai thoải mà lôi lên. Lưỡi câu nhỏ và mảnh, nhỏ hơn cả loại người ta vẫn dùng để câu rô đồng và diếc, nó chỉ tương đương lưỡi câu cá mương, được móc mồi là giun đỏ hoặc giun quế (loại giun này hiện được nuôi công nghiệp và có bán sẵn ở một số tiệm đồ câu). Chì câu có hình dáng và kích thước đúng bằng hạt đỗ tương, gọi là chì kẹp vì nó có xẻ sẵn một cái khe, chỉ việc đặt dây cước vào đó và dùng kìm kẹp nhẹ lại cố định. Chì luôn cách lưỡi câu khoảng 15cm, không nên gần quá sẽ làm con cá “nghi ngờ” hoặc “sợ hãi” (tất nhiên chúng ta không bao giờ có thể suy nghĩ như loài cá, nên chỉ ước đoán như vậy!). Phao câu xuyên tâm hình trứng làm bằng mút xốp bán sẵn được chế lại, kích cỡ khoảng bằng đầu ngón tay. Dây cước được luồn qua lỗ xuyên tâm của phao, sau đó cắm một que tăm nhỏ vào để cố định vị trí phao. Khi cần thay đổi vị trí phao theo mực nước suối chỉ cần kéo phao lên hoặc xuống, sao cho chì và mồi câu là là sát đáy nước.

Đi câu suối do địa hình khá hiểm trở, lại vào mùa lạnh, nên trang bị phải thật gọn nhẹ, mặc quần áo ấm, đi dép quai hậu. Chỉ mang theo những gì cần thiết như cần câu, giỏ cá, mồi câu, nước uống và đồ ăn nhẹ. Với những sông suối có thác nguy hiểm, nước sâu, cần trang bị thêm loại áo phao chuyên dụng có quả “bom khí” tự bơm hơi khi giật một cái chốt nhỏ trước ngực áo lúc gặp sự cố. Dân câu Điện Biên thường đi câu 2 hoặc 3 ngày, thậm chí nhiều hơn nữa, họ dựng trại nghỉ qua đêm, sáng hôm sau dậy sớm thổi cơm ăn và đi câu cả ngày, khẩu phần ăn trưa là một chút cơm nắm muối vừng, cá nướng, hoặc lương khô.

Một thứ vật dụng rất hữu ích khi đi câu cá suối là một đôi kính mát phân cực (polarized) – Loại kính này loại bỏ những tia phản xạ của bầu trời trên mặt nước, chống lóa, giúp nhìn sâu hơn xuống đáy nước, nắm được tình hình cá.

Tất nhiên phương tiện hiện đại hỗ trợ đã khiến việc câu cá ngày nay trở nên dễ dàng hơn khi xưa rất nhiều. Những cây cần carbon vừa dài, vừa nhẹ, lại dẻo dai, giúp cho người câu có thể đứng trên bờ mà buông câu ra giữa dòng nước, thậm chí vẩy mồi sang tận bờ bên kia. Với một cây cần xấp xỉ 200 gram, có thể đứng câu cả ngày không cảm thấy mỏi tay.

Hồi cuối những năm 80, nhân lên chơi nhà ông bà ngoại, tôi đã có dịp câu cá sỉnh ở suối Ngòi Đường, thị xã Cam Đường. Ngày đó tôi học theo cách câu của người Dao, họ sử dụng những chiếc cần trúc ngọn nhỏ và dịu, dài chừng 4,5 m. Mồi câu là lòng đỏ trứng gà nhào nhuyễn với bột mì, khi câu chỉ cần nhúng lưỡi câu vào là mồi đã dính ngay. Cách lưỡi câu chừng hai đốt ngón tay, vê một ít chì lá vào dây cước để đảm bảo mồi câu chìm xuống nước. Chiếc phao đơn giản được gọt từ xốp, buộc chỉ rồi thắt nút nối với sợi cước, có thể kéo phao lên xuống thay đổi theo độ nông sâu của dòng suối. Những thanh niên người Dao, do chiếc cần câu trúc không đủ dài nên họ đứng giữa dòng suối buông câu
cho mồi và phao câu trôi xuôi dòng. Cứ hết tầm dây cước họ lại nhấc lên thu về thả xuống ngay trước mặt rồi cho trôi tiếp, lặp lại chu trình đó, sao cho mồi trôi về phía đàn cá đang hóng mồi. Lúc cá cắn mồi và kéo phao tụt xuống, họ búng nhẹ đầu cần thu về, nhanh tay chộp cá, gỡ cá cho vào giỏ đeo ngang hông, cái chén nhỏ đựng mồi thì đeo lủng lẳng trước ngực. Cứ thế, họ lội xuôi dòng suối, câu hết đàn cá này đến đàn cá khác.

Cảnh tượng đó vô cùng thanh bình, nhàn nhã, mà lại muôn phần thú vị! Hồi đó tôi mới khoảng hơn mười tuổi, chưa biết bơi nên không dám lội giữa dòng nước xiết, chỉ đi dọc ven bờ buông câu, và chỉ câu được vài chú cá sỉnh nhỏ đám thanh niên câu không hết còn sót lại. Thế nhưng chỉ cần vậy thôi cũng đã khiến tôi sung sướng mê mẩn.

Mới đây, sau chuyến câu cá sỉnh ở Điện Biên, nhóm chúng tôi lại làm một hành trình từ Hà Nội lên Sơn La, đi qua thủy điện Mường La, lần theo lưu vực sông Đà về phía Đông Bắc, đến ngã ba suối Chát đổ vào Nậm Mu, nơi tiếp giáp địa phận huyện Than Uyên của Lai Châu. Chúng tôi đi nhờ một chiếc UAZ của Ban quản lý dự án tái định cư (chỉ loại xe này mới có thể đi nổi con đường hiểm trở ấy), chiếc xe băng qua những ngôi làng trống trải đã di dân gần hết, chỉ còn lơ thơ người, họ đã được quy hoạch tái định cư ở khu vực cao hơn, lưng sườn núi, cách đó vài cây số. Mai đây khi hoàn thành nhà máy thủy điện Sơn La, toàn bộ nơi này sẽ biến thành lòng hồ, vĩnh viễn nằm dưới hàng chục mét nước sâu thẳm. Sau khi lội suối băng đèo, cuối cùng chiếc UAZ dừng lại bên bờ Nậm Mu, phong cảnh hùng vĩ, nước non hữu tình, nhưng hoang vắng lạ lùng. Một cây cầu treo bắc qua suối, nhiều tấm ván đã mục, có vẻ như nơi này đã hoàn toàn bị lãng quên. Chúng tôi buông câu, nhưng tuyệt nhiên không có một con cá sỉnh nào, chỉ được vài chú pa phăn bé tẹo. Cá phăn có hình dáng và kích thước gần giống cá bống, trên thân có những vằn xanh xám, ăn rất ngon. Tuy nhiên, để có một đĩa nhỏ cá phăn rán ròn cần đến ít nhất dăm ba chục con, chúng bé tẹo, chỉ bằng ngón tay út. Trên đường đi, vài người dân trong bản đã cho biết mùa này ở suối Chát và sông Nậm Mu không có cá sỉnh. Chúng tôi thấy hơi lạ lùng, vì lúc này giữa tháng 12 dương lịch, ở Điện Biên đang là mùa câu cá sỉnh rộ nhất, lẽ nào cùng loài cá mà mỗi nơi chúng lại có tập tính khác nhau đến vậy?

Nhưng quả thật đúng là khu vực đó không có cá sỉnh. Do nước trong veo, nên có cá hay không sẽ biết ngay, chúng thường bơi theo đàn, nháng dưới nước loang loáng, rất dễ nhận biết. Chúng tôi đành ra về tay trắng, mang theo một chút tâm trạng hậm hực mà tay mê câu nào cũng có mỗi khi đi câu thất bại.

Thế rồi nhân chuyến công tác cùng anh bạn đầu năm 2009 vào huyện Văn Chấn thuộc tỉnh Yên Bái, tôi mang theo cây cần câu, quyết tâm “phục thù” bằng một trận câu hoành tráng trên “thánh địa” của cá sỉnh, đó là dòng suối Nậm Thia nổi tiếng của cánh đồng Mường Lò. Sau khi nghiên cứu kỹ bản đồ, tôi định bụng sẽ vào thẳng thị xã Nghĩa Lộ, sau đó câu xuôi theo hạ lưu cách thị xã chừng chục cây số trước, đó là nơi dòng suối có nhiều thác ghềnh liên tiếp.

Ngay khi vừa đặt chân đến Nghĩa Lộ, tôi đã dò hỏi những cư dân sống gần ngòi Thia về loài cá này. Họ vui vẻ kể cho tôi nghe rất nhiều thông tin lý thú về cá sỉnh Nậm Thia, với vẻ tự hào thấy rõ. Họ cho biết ở suối Nậm Thia, những đàn cá sỉnh lại hay xuất hiện vài ngày sau những trận lũ đầu mùa, rơi vào tháng ba hoặc tháng tư âm lịch, khi nước bắt đầu rút và trong trở lại, từng đàn cá sỉnh bơi đi kiếm mồi là giun, ấu trùng, bị nước ngập cuốn trôi theo dòng. Khi biết tôi có ý định câu cá sỉnh vào tiết trời mùa đông, hết thảy họ đều tỏ ra nghi ngờ.

Nhưng dù sao đi nữa, tôi vẫn quyết định sẽ đi câu. Ngay sáng sớm, tôi men theo bờ Nậm Thia, từ cây cầu Thia cửa ngõ thị xã ngược dòng khoảng chừng hơn một cây số, chỉ buông câu chừng nửa tiếng và quan sát dòng nước, tôi đã biết là không có cá sỉnh.

Chiều hôm sau, chúng tôi xuôi dòng Nậm Thia đi về phía hạ lưu, nơi mà địa hình hiểm trở, độ dốc dòng chảy con suối lớn, tạo nên vô số thác ghềnh hiểm trở. Đường rải đá từ lâu không tu sửa, xấu thậm tệ, chiếc xe máy của anh bạn tôi long xòng xọc, phải nói là vô cùng vất vả. Cuối cùng chúng tôi dừng lại ở chân một con đèo dốc cao, cách Nghĩa Lộ khoảng hai chục cây số, nơi đó dòng suối chui vào khe núi đá dựng đứng, những tảng đá to bằng cả tòa nhà nằm ngổn ngang trong lòng suối. Tôi có thể hình dung ra những trận lũ khủng khiếp nào đó đã mang những tảng đá khổng lồ ấy đến đây, và bị khe núi chặn lại. Mất rất nhiều thời gian và sức lực để chui từ trên đường xuống thung sâu, và khi bò lên cũng vậy. Thế nhưng tôi mất rất ít thời gian để nhận ra nơi này cũng chẳng có con cá sỉnh nào. Dường như có lúc tôi đã thoáng nhìn thấy bóng một con cá loang loáng ánh bạc dưới làn nước, nhưng có lẽ nó chỉ là ảo ảnh.

Dưới khe núi, dưới những tán cây, ánh sáng buổi chiều yếu ớt nhợt nhạt lọt xuống. Tiếng thác nước réo, và vực nước sâu tối sẫm mất hút phía sau vách núi đá. Chúng tôi nhanh chóng rời khỏi khu vực này, bởi cá đâu không thấy chỉ cảm nhận một sự quạnh quẽ hoang vắng, đầy nguy hiểm và bất trắc. Mùa lũ, không bao giờ tôi dại dột mò xuống cái vực sâu âm u ấy.

Con đường về trơn trượt trầy trật, mưa phùn lạnh thấu xương, và bóng tối đổ ập xuống núi rừng. Khi gần về đến thị xã, lúc đi qua một cây cầu tre nổi lềnh phềnh trên mặt suối Nậm Thia, chúng tôi bắt gặp hai người đàn ông trên một chiếc thuyền nan khá to và dài, họ cởi trần, mặc quần đùi, và đang loay hoay khênh thuyền qua cầu để tiếp tục xuôi dòng. Lại gần mới biết họ quăng chài kiếm cá, trong giỏ lèo tèo vài con cá sỉnh bé tẹo. Nhìn họ mà chúng tôi thoáng rùng mình, trong khi chúng tôi áo đơn áo kép mà vẫn còn lạnh run lên, trời lại mưa phùn gió bấc, mà họ thì cởi trần lặn lội để kiếm mấy con cá ranh…

Tôi bỗng thấy vô cùng chán nản, buồn bã. Tôi buồn vì nguồn cá sỉnh Nậm Thia cạn kiệt, vì chuyến câu thất bại, và cũng bởi vì so với sự vất vả của họ thì cái thú vui câu cá của tôi thật là phù phiếm, vô nghĩa. Cũng là tìm cách bắt những con cá, nhưng giữa chúng tôi và họ là những kẻ hoàn toàn trái ngược nhau. Khi chúng tôi hỏi thăm về công việc, trên khuôn mặt họ là sự dửng dưng,
vô cảm, có phần khó chịu. Trước đó, khi từ vực thác quay trở ra, chúng tôi cũng chứng kiến hai người thanh niên khác đang dùng kích điện đánh cá dưới lòng suối, trong chạng vạng chiều hôm, họ không biết chúng tôi đang quan sát. Dừng lại theo dõi một hồi, chúng tôi nhận thấy họ cũng chẳng kiếm được là bao, chỉ đôi ba con cá nhỏ (họ không thể chê trách và đổ lỗi cho ai khác, ngoài họ, về chuyện đó). Nghe nói nạn đánh mìn bắt cá ở đây vẫn diễn ra thường xuyên, còn vận chuyển gỗ lậu thì chính mắt tôi chứng kiến. Họ dùng xe minsk chở những súc gỗ dài dễ đến 3 m, chiếm trọn con đường nhỏ, thậm chí họ suýt lao cả vào chúng tôi. Cách trạm kiểm lâm chừng trăm mét, họ dừng lại tuồn gỗ xuống lòng suối hoặc kéo lên trên đồi, qua mắt trạm kiểm lâm. Nhưng tôi nghĩ thực ra cánh vận chuyển gỗ làm vậy để cho mọi chuyện đỡ lộ liễu quá. Trạm kiểm lâm có lẽ biết rõ mọi chuyện, vấn đề là họ có xử lý hay không, và xử lý có xuể hay không mà thôi.

Cá sỉnh Nậm Thia quá nổi tiếng, và chính điều đó đã dẫn đến việc nó bị đánh bắt một cách quá triệt để, họ đã khai thác bừa bãi nguồn cá quý giá này. Một cân cá sỉnh tươi ở Nghĩa Lộ được bán với giá trên dưới một trăm ngàn, tuy không phải là quá cao, nhưng với những người dân chài lưới nghèo thì cũng là đáng kể. Ít nhất nó cũng đủ để khiến họ đội mưa gió lạnh lẽo, lặn ngụp quăng chài, chích điện, như cái buổi chiều hôm đó chúng tôi đã chứng kiến.

Ngày hôm sau, một mình tôi ngược dòng Nậm Thia, đi về phía huyện Trạm Tấu. Ở cây số 11, có vạt đồi rộng với những thửa ruộng bậc thang lô xô uốn lượn, phía cuối những thửa ruộng là một cây cầu treo bắc qua suối. Những người dân cho biết vào tháng hai âm lịch trở đi, cá sỉnh nháng trắng suối như vãi gạo, khiến ngay cả những con chó đi qua cầu cũng phải đứng lại ngẩn ngơ nhìn. Thế nhưng vào mùa này, tôi đứng trên cầu cả nửa tiếng đồng hồ cũng chỉ đếm được đôi ba chú cá sỉnh nháng qua nháng lại. Tôi thử buông câu, nhưng không thu được kết quả gì. Theo lời khuyên của một cậu thanh niên tên là Hoàng Anh cũng có vẻ mê câu cá, nhà cậu ta ở ngay đó, tôi tiếp tục đi đến cây số 17, nơi đó cũng có một cây cầu treo bắc qua suối để vào một thị thị tứ nhỏ phía bờ bên kia. Chỗ này dòng suối chảy qua vách núi đá dựng đứng, nước xiết, thác sâu, khá nguy hiểm, và theo quan sát thì cá sỉnh cũng chỉ lèo tèo đôi ba con bé tẹo. Tôi cũng lại nhìn thấy một cậu thanh niên cởi trần đi quăng chài giữa trời lạnh căm, cậu ta mạo hiểm nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác giữa lòng suối, liên tục quăng chài, và hiếm hoi lắm mới thấy bắt được một con cá sỉnh nhỏ.

Người Thái sống ven suối có nhiều cách bắt cá khá độc đáo, họ đan nứa thành những cái đỏng như rào thưa ngang suối, phía cật nứa quay về phía xuôi dòng, chỉ chừa một khe sát bờ. Nước chảy đẩy cái đỏng xô nghiêng, ngửa phần bụng trắng phên nứa lên, cá bơi xuôi dòng đến gần thấy màu trắng phên nứa thì “sợ” vì trông nó khác lạ so với sỏi cuội đáy suối, chúng sẽ rẽ về phía người ta chừa sẵn, mà thực chất chính là những cái bẫy một chiều, vào thì dễ mà ra thì khó.

Hoặc cách khác là họ dùng những tảng đá cuội lớn xếp dọc đoạn suối dốc, thu hẹp dần, khiến cá bị dồn vào một cái khe và cuối cùng chui vào bẫy. Cũng có khi họ xếp quây vòng cung lại chặn một nửa dòng suối, sau đó dùng bao tải dứa, nilon, phủ trùm lên dãy đá tảng, áp lực dòng nước khiến các tấm bao tải và nilon ép sát nhau, bít kín tất cả khe hở, và như thế bỗng dưng phía bên trong cá bị nhốt lại. Người ta dùng vôi sống thả vào cho cá sặc, dễ bắt, sau đó gỡ vài viên đá phía cuối dòng, hứng tấm lưới ở đó, những con cá nào say vôi trôi dạt vào lưới bị tóm hết. Do địa hình dốc nên sau khi dỡ vài viên đá phía cuối dòng, một loáng là nước phía trong khoảng quây đá cuội sẽ cạn hết, người ta đi nhặt nốt những con cá còn sót lại.

Tôi nhìn thấy rất nhiều những cái bẫy cá như thế suốt hàng chục cây số dọc con suối Thia. Bẫy cá nhiều chứng tỏ vẫn còn nhiều cá, nhưng cũng có nghĩa là nó bị khai thác rất triệt để, và khả năng còn cá để câu là rất mong manh.

Tất cả hy vọng tiêu tan, tôi quay về Nghĩa Lộ, hôm sau về thành phố Yên Bái. Tôi dự định khoảng tháng ba âm lịch sẽ quay lại câu “trả thù”. Những người mê câu cá là thế, càng thất bại lại càng ham, và khiến những chiến thắng càng thêm ngọt ngào.

Trong lúc quay về Yên Bái, tôi còn cố vớt vát bằng cách lần mò đến những thác nước thượng nguồn của con suối Lâu, người Yên Bái quen gọi là ngòi Lâu. Từ quốc lộ 37, địa phận xã Hồng Ca huyện Trấn Yên, chúng tôi rẽ vào những con đường từ lâu đã bị bỏ quên, chỉ có những người dân địa phương dùng để đi lại, xấu thậm tệ. Chúng tôi cứ đi mãi, đi mãi, cho đến khi không thể đi nổi nữa, chiếc xe chết máy giữa suối. Rất may nước không tràn vào bộ lọc khí.

Ở đây nước suối trong kỳ lạ, có thể nhìn rõ từng viên sỏi dưới đáy. Có lẽ tôi đã phán đoán sai lầm, do có nhiều thác nước cao, cá sỉnh không ngược lên được tận nơi thượng nguồn đó. Hoặc có thể mùa này chúng đã bị đánh bắt sạch. Sau tất cả những vất vả cực nhọc trải qua, mình mẩy đau nhức, đói và mệt, chúng tôi đem bánh mì và hộp sữa mang theo ra, ngồi ăn trên mấy tảng đá giữa suối. Chưa bao giờ bánh mỳ sữa lại ngon đến thế, anh bạn tôi thốt lên. Chúng tôi cười khoái trá, cười cho cả cái sự điên rồ của mình.

Nhưng niềm an ủi cuối cùng của tôi là, đúng như dự đoán, cá sỉnh ở hạ lưu ngòi Lâu đã bị chặn lại bởi một con thác cao gần cây cầu Đá Trắng, cách thành phố Yên Bái chừng 15 km. Vậy đấy, chúng tôi xuất phát từ thành phố Yên Bái, hăm hở đi hàng trăm km, sục sạo mọi khe suối thác nguồn, để rồi phát hiện ra rằng chẳng cần đi đâu xa, cá sỉnh ngay gần thành phố.

Đứng trên cầu Đá Trắng, tôi nhìn thấy một đàn cá sỉnh nháng trắng dưới suối, dễ đến gần hai chục con. Khỏi phải nói, tôi lập tức buông câu, và trong vòng khoảng một tiếng đồng hồ tôi đã câu hết cả đàn cá ấy. Chỉ tiếc là con cá sỉnh đầu đàn khá to không chịu cắn câu, nó bơi đi đâu mất.

Vẩy mồi câu lên phía trên, cho nó trôi theo dòng nước về phía bãi kiếm ăn của đàn cá sỉnh. Và khi cái phao trôi đến đúng chỗ những ánh bạc loang loang ấy, nín thở chờ đợi cái phao nhấm nháy rồi mất hút khỏi mặt nước. Bú
ng cần là thấy nặng trĩu, rung rung, và cảm nhận rõ con cá chạy loằng ngoằng dưới nước hòng thoát thân. Thế rồi cuối cùng là hình ảnh con cá bay khỏi mặt nước, giãy giụa, ánh nắng chiếu vào cái màu bạc lấp lánh của nó loang loáng.

Sau vô vàn vất vả, cuối cùng thì tôi cũng đã được nếm hương vị ngọt ngào của chiến thắng./.

Phong cảnh Điện Biên đây

Món cơm lam và cá lam ăn sáng!


Chuẩn bị setup đồ câu, để “tác chiến” ngay khi đổ bộ.


Ngay trên đường đi, dừng lại bên đường 10 phút, nhóm Điện Biên đã lên cá luôn.


Tranh thủ tác chiến ngay


Câu cá suối là cả một nghệ thuật đới!


Xuôi dòng Nậm Pộ cảnh đẹp mê ly


Gái sơn cước trông yêu thế không biết!


Nhưng dù sao mải vui cũng không quên nhiệm vụ, vẫn cố gắng bám sát bác Bình – Một tay câu khính (và cả chế biến các món từ cá) đầy kinh nghiệm


“Chiến sĩ Điện Biên” vũ khí đầy mình là em ruột anh Tuấn, tên là Sơn – một cao thủ mê câu khính, bên cạnh cũng là một “sát thủ” dạn dày trận mạc. Hôm đó nhóm anh Sơn ở lại Nậm Pộ câu 2 ngày luôn.


Cá sỉnh (pa khính) đây, con pa khính ở phía bên trên, có dải màu ánh xanh xanh phía sống lưng đó. Con cá bên dưới là pa chát, có hình dáng gần giống nhau.


Đây là trang bị điển hình của dân câu Điện Biên

Những anh em Điện Biên quá quen thuộc những việc cắm trại rồi


Góc kia làm gì mà khói lên vậy nhỉ?


Lại gần xem sao


Đằng kia cũng khói


Món gì hấp dẫn vậy?

Ra là món thịt nai nướng, ăn ngay lúc đang nướng, ngon không phím nào tả xiết!


Nướng, làm lam cá (tương tự cơm lam), nấu canh… nhiều món thế mà giỏ vẫn còn cá


Tiếp tục quay lại với món cá hun khói


Hun cách xa than và lửa, sao cho cá khô dần, thơm phức!


Tự làm khắc sướng, đến lúc tận hưởng thành quả rồi đây, ngon không phím nào tả xiết!


Đậm đà khó quên, Pa Khính hun khói, sau khi được tẩm ướp bằng gia vị, hạt Mắc Khén rừng…


Rồi thì sau khi đã cơm no rượu say, sau khi đã hát hò, cuối cùng chui vào lều ngủ thôi. Sau một ngày vận động, chắc sẽ ngủ ngon lắm đây.

Còn dưới đây là chuyến đi Sơn La:


Đèo Cao Pha – Sơn La


Con đường hai bên đầy đá hộc


Sông Đà đây rồi


Đường vào công trường thủy điện Mường La bụi mù mịt


Tranh thủ ghé thăm cảnh xây dựng thủy đi
ện


6 đường tuy-nen tổ máy to tổ chảng


Người ngoài hành tinh hay sao mà mắt xanh lè?



Tác giả tác phẩm



Chụp ảnh dưới cây lưu niệm (của bác nào đấy to to trồng, chả nhớ nữa!)


Toàn cảnh công trường


Mượn được quả UAZ mui cứng này của các cán bộ phụ trách vấn đề tái định cư vùng lòng hồ


Như cán bộ huyện đi công tác


Đây là bạn của Cáo Sơn La, công tác ở ban dự án di dân lòng hồ (là bà con họ hàng gì đấy với Ân Voi Còi Điện Biên)


Hai bác này trông hồn nhiên chưa?


Đây mới gọi là bác tài!


Chiếc UAZ lại lao vào con đường vàng bụi


Đi sau một chiếc xe tải lội nước


Các làng bản di dân gần hết, chỉ còn lác đác bóng người


Hoang vắng


Trống rỗng


Như bị lãng quên


Chiếc xe tải vẫn chạy phía trước


Rồi đến một vũng nước giữa bãi sông cạn


Con suối chảy ra sông Nậm Mu chảy từ Lai Châu về


Đổ bộ


Mai đây khi hoàn thành thủy điện, cây cầu treo bắc qua suối này sẽ ngập chìm trong biển nước


Trông háo hức ghê!


Tùng nhanh nhảu buông câu ngay bờ Nậm Mu


Bác Dũng và bác Hiếu nhà ta cũng vậy


Lão Bá Vương thì vẫn bận “tạo dáng”


Còn đây là chuyến “lưu diễn” Văn Chấn – Nghĩa Lộ – Yên Bái:

Con suối Nậm Thia hiểm trở chảy qua khe núi

Ở khe núi, những tảng đá lớn ngổn ngang suối

Câu ở hạ lưu Nậm Thia

2 kẻ chích điện ở Nậm Thia

Còn đây là đoạn cây số 11 đi Trạm Tấu

Cây cầu treo qua suối, nơi nghe nói vào tháng 3 âm lịch rất nhiều cá sỉnh

Có những ghềnh thác nhỏ và vụng nước khá sâu

Cậu thanh niên này tên là Hoàng Anh, có vẻ rất thích câu cá.

Nhìn từ trên xuống

Đám trẻ thì mê mải chơi bi

Nhìn chúng lại nhớ tuổi thơ ấu xa xưa

Thác nước và cây cầu treo ở cây số 17 đường đi Trạm Tấu

Thác nước rất xiết

Đây là cá phăn, hay còn gọi là cá păn, pa păn, pa phăn

Đường QL32

Nắng sớm

Ngòi Lâu

Bạn đồng hành

Nước trong vắt

Nhìn rõ từng viên sỏi dưới đáy

Vắng vẻ

Chân Thác Thùng, nơi các loại xe không thể vào sâu hơn nữa

Cầu Yên Bái đây

Những cây cầu khỉ bắc qua Ngòi Lâu

Ngòi Lâu nước rất trong, chảy ra Sông Hồng ở tả ngạn, phía đối diện với bến phà Âu Lâu, nơi Nguyễn Thái Học lãnh đạo khởi nghĩa Yên Bái hồi xưa.

Tượng đài kỷ niệm ở ngã ba Âu Lâu

Con suối trong xanh, mùa này trông thật hiền hòa

Một người bạn hồi phổ thông

Trẻ em ở Trấn Yên, bên cạnh QL37

Thủy điện thác Hưng Khánh bên đường QL37

Lại một cây cầu khỉ nữa

Nơi họ thả rất nhiều bè tre, nứa, vầu, mai…

Và nhìn thấy đàn cá sỉnh đang láng những ánh bạc dưới nước loang loáng… đàn cá phải đến gần hai chục con! Thật không thể tin nổi!

Và thật bất ngờ, con cá đầu tiên câu lên chính là ở đây, ngay Ngòi Lâu cách thành phố Yên Bái chừng 15km. Không thể tin là cá sỉnh lại sẵn như thế!

Trong vòng 1 tiếng đồng hồ, mình ngay một xâu gần hai chục con cá, gần như sạch nhẵn đàn cá! Phê quá!

Cá sỉnh đây!

Bạn nào hứng thú và đủ kiên nhẫn đọc hết, xem hết entrry này, mời tham khảo thêm ở các link dưới đây:

http://www.vietnamangling.com.vn/forums/showthread.php?t=797

http://www.vietnamangling.com.vn/forums/showthread.php?p=2594#post2594

http://www.vietnamangling.com.vn/forums/showthread.php?t=810

Tết Hà Nội xưa trong tôi

In Uncategorized on Tháng Một 15, 2009 at 11:57 chiều

Đó là đầu những năm tám mươi. Gia đình tôi trước kia ở Lao Cai, chiến tranh biên giới năm bảy chín xảy ra khiến cho mỗi người một nơi. Cha tôi thì trong quân ngũ, đơn vị đóng tận Ninh Bình. Mẹ tôi dạy học ở Yên Bái, đứa em gái út tôi sinh năm tám mươi ở cùng với mẹ. Đứa em gái kế sau tôi thì ở với bà dì mãi tận Bảo Yên. Còn tôi được gửi ở nhà ông bác ruột mấy năm, đi học mẫu giáo, vỡ lòng, rồi vào lớp một. Tết đến, cả nhà tôi về ăn tết cùng gia đình bác.

Tôi vẫn còn nhớ những lần đầu về Hà Nội. Có thể đó là một chuyến xích lô từ ga về, trong đêm khuya, phố xá hoang vắng dài hun hút, hiu hắt ánh đèn đường. Hoặc đó lại là một buổi chiều tà đang hấp hối, phố xá bắt đầu lên đèn. Rời nhà ga, mẹ con tôi lên một chiếc tàu điện. Ngoài ô cửa sổ tàu điện, bầu trời chạng vạng in bóng những dáng hình liêu xiêu của phố xá lướt qua, tiếng leng keng, ánh chớp lẹt xẹt tia lửa điện trên cao do những toa tàu điện gây ra, tất cả nhòe nhoẹt trong nước mắt tôi. Mẹ cố hát ru tôi ngủ, nhưng càng làm tôi khóc tợn, đó là năm bảy chín, tôi mới lên năm tuổi, và tôi sắp phải xa mẹ.

Bố tôi từ đơn vị về thăm, rồi bố lại đi. Tôi chạy theo tìm bố, từ khu lao động Tân Mai cho đến tận Chợ Mơ. Một ai đó tốt bụng khi thấy tôi khóc trên tàu điện đã hỏi han rồi đưa tôi về tận nhà.

Vì thế dịp tết được sum họp gia đình, với tôi thật hạnh phúc biết mấy. Những bánh pháo tép xanh đỏ còn cứng nguyên vết hồ. Mùi hương trầm thơm ấm áp. Họ hàng dưới quê mang lên món bánh lá nhân thịt có một hương vị thật đặc biệt. Khu lao động Tân Mai hồi đó là vô số những dãy nhà tạm cấp bốn chạy dài, lụp xụp. Bình thường nó mang một dáng vẻ buồn thảm nghèo nàn với những bức tường loang lổ, những mảnh vườn cúc tần và dâm bụt mọc hoang tàn. Người ta đem tất cả những tấm thép đồng nát từ nhà máy cơ khí thải ra về chắp vá thành hàng rào gỉ nát, đó là những tấm thép dập đủ hình thù, từ mắt xích xe đạp, hình tròn như đồng xu, hình tam giác, hình vuông… thật kỳ lạ, chúng in sâu vào trong tâm trí tôi, bởi những hình kỷ hà buồn tẻ lặp đi lặp lại đều đặn của nó. Rồi dây tơ hồng tha hồ leo trên những bụi cúc tần, càng làm cho mọi thứ trở nên giống như đã bị loài người bỏ quên. Những chiếc cột điện trơ trọi, ban đêm bóng đèn vàng vọt tù mù rọi xuống một quầng sáng yếu ớt. Vòi nước máy công cộng rỉ từng giọt, với những xô thùng xếp hàng xung quanh.

Nhưng khi tết đến, trong mắt tôi tất cả những vẻ xấu xí ấy bỗng biến mất. Bác tôi lôi trong tủ ra một chùm đèn nhấp nháy nhiều màu, mà các bóng chỉ được sơn phết màu một cách đơn giản, nhưng như thế cũng đã là xa xỉ lắm rồi, nó chỉ được dùng duy nhất một lần trong năm, vào cái dịp đặc biệt này. Thường thì nó sẽ được treo lên một cành đào phai lớn, mà một ông chú nào đó sẽ đem về từ Sapa, đó là một thông lệ. Bác tôi là trưởng họ, và mọi người về ăn tết từ khắp nơi sẽ tự động đem góp một vài thứ cây nhà lá vườn nào đó. Vài chiếc bánh chưng, bánh lá, chục cân gạo nếp, đỗ xanh, cành đào, cây quất, chai rượu, bánh pháo, khúc giò… Thế là đại gia đình cùng ăn tết chẳng thiếu thứ gì.

Chợ hoa được tổ chức ở công viên Lê Nin, anh em tôi cùng các anh chị em họ được bố mẹ và cô dì chú bác đưa đi chơi. Tôi vẫn còn giữ bức ảnh đen trắng chụp cùng ông anh họ, trên tay cầm quả bóng bay, đầu đội chiếc mũ len mẹ tôi đan, ngay gần chiếc cầu cong cong bắc ra hòn đảo nhỏ. Không hiểu sao trong ảnh trông tôi vẫn có vẻ u buồn. Tôi chỉ thực sự cười khi bước chân vào nhà gương dị dạng. Không rõ bây giờ nó còn tồn tại hay không, nhưng hồi đó nó là một thứ không thể bỏ qua. Trong công viên còn trưng bày một chiếc máy bay trực thăng và một chiếc Mic phản lực, là thứ thu hút tôi mãnh liệt hơn cả, thậm chí tôi không còn quan tâm đến vô số những trò chơi khác mà người ta bày ra quanh đó. Tôi cũng không quan tâm đến quần áo đẹp hay bánh kẹo. Tôi chỉ thích được bố mẹ đưa đi khám phá những nơi mới lạ, nơi nào cũng được, miễn không phải là xóm lao động nghèo toàn những chiếc xích lô và cống rãnh.

Rồi thời gian trôi qua, tôi lớn dần. Tôi còn nhớ những chuyến tàu đêm chạy qua cầu Long Biên, tiến vào Ga Hàng Cỏ. Từ trên cao dọc phố Phùng Hưng, qua cửa sổ tàu, những cảnh sinh hoạt đời thường của người dân lướt qua. Một gia đình đang ăn cơm. Họ đi lại trong nhà. Ánh đèn từ nhà họ hắt ra, màu vàng vọt của đèn sợi đốt, màu sáng xanh của đèn neon, chao ôi là kỳ lạ! Thường khi đó tôi sẽ cảm thấy cay cay sống mũi.

Những ô cửa sáng đèn, mãi sau này tôi mới hiểu đó chính là biểu tượng cho sự sum họp mà tôi thèm khát, nó luôn toát ra một vẻ bí ẩn quyến rũ, nhất là khi ngắm từ xa, hoặc khi hình ảnh đó trôi lướt qua như thế, khi đoàn tàu chạy chầm dần và đến cuối hành trình. Nơi đó, có một mái nhà đang chờ đón tôi, với những vòng tay người thân chờ đón.

Phải chăng đó chính là ý nghĩa lớn nhất của ngày tết?

Em hỏi anh đêm qua đi đâu?

In Uncategorized on Tháng Một 15, 2009 at 7:37 chiều

Anh nói rằng anh đi đâu à, đi đâu thì kệ xác anh!

Ngay sáng mồng một tết đã vác cần đi câu, hẳn các bạn cho rằng chuyện này là điên rồ. Nhưng với dân câu thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi lẽ nhiều người trong số họ tự nhận là mình hâm, dở hơi, điên, bị giời đày…

Một số người chẳng đợi đến sáng mồng một, mà ngay sau giao thừa đã vác cần câu ra Hồ Tây, gọi là lấy hên, lấy may. Một người bạn vong niên của tôi có thông lệ năm nào cũng đến hồ Quảng Bá câu rô phi vào dịp tết, và đặc biệt là ngày mồng một đầu năm, anh kể với tôi có đến hồ mới thấy rất nhiều người cũng giống mình. Thậm chí có những người mỗi năm chỉ gặp họ duy nhất một lần vào cái ngày đặc biệt ấy.

Buổi sáng sớm mồng một tết, bầu không khí se lạnh, lắc rắc mưa phùn. Mặt hồ bảng lảng trong tiết xuân. Những người câu cá lặng lẽ chọn cho mình một vị trí quen thuộc, thường là họ ngồi lẫn vào những bụi cây dại hoặc vườn rau quanh hồ Quảng Bá, như ẩn mình cùng cây cỏ, mũ áo trùm kín. Đó chính là dân câu thứ thiệt.Và hầu như tất cả bọn họ đều câu cùng một kiểu, cùng một loại cá, đó là cá rô phi.

Mùa sinh sản mạnh của cá rô phi trùng với dịp tết. Loài cá này có một tập tính sinh sản khá đặc biệt, cá rô cái chọn vị trí nước tương đối tĩnh và đủ độ sâu ven bờ, dùng vây và đuôi quạt nước ở đáy hồ, làm sạch bùn, tạo thành một cái ổ hơi lõm xuống như lòng chảo, chúng dùng miệng nhặt hết những cọng rác khỏi ổ, và ở lỳ đó đợi rô đực đến. Cá rô cái vào bờ đẻ trứng nhiều nên cuộc cạnh tranh khá khốc liệt, chỉ cần bỏ đi một lát hoặc xao lãng là bị con cá khác chiếm mất ổ ngay tắp lự. Số lượng cá cái luôn lớn hơn, nên cá đực đi tới đâu cũng được săn đón nhiệt tình, thường là có một đàn cá cái vây quanh. Cá rô đực sẽ chọn một cái ổ mà nó ưng ý làm nơi ban phát ân huệ tới những con cái, chứ không có chuyện nó sẽ làm chuyện đó ở bất kỳ chỗ nào. Điều đó đảm bảo rằng sau khi cá cái đẻ, trứng cá được thụ tinh và bảo vệ cẩn thận, không rơi vãi tứ tung làm mồi cho các loài khác. Cho đến lúc nở ra thành cá con, một thời gian sau chúng vẫn còn được cá mẹ bảo vệ bằng cách ngậm đàn con trong mồm mỗi khi gặp nguy hiểm hoặc khi cần di chuyển xa. Đây chính là nguyên nhân khiến loài cá này có sức sống mãnh liệt, sinh sôi rất nhanh, chiếm số lượng áp đảo trong các ao hồ sông suối ở Việt Nam. Điều kiện sinh tồn khắc nghiệt ở Châu Phi, quê hương xa xưa của chúng, đã góp phần tạo nên loài cá này như ngày hôm nay.

Theo một website thủy sản, lịch sử xuất hiện cá rô phi ở Việt Nam như sau:

Từ năm 1958 Việt Nam nhập cá rô phi đen hay còn gọi là cá rô phi “mọi” và có tên khoa học là Tilapia mossambica (ngày nay gọi là Oreochromis mossambicus). Loài rô phi này có đặc tính mắn đẻ, cỡ cá nhỏ, giá trị thương phẩm thấp nên sau này ít được chú ý.

Năm 1974 rô phi vằn (Oreochromis niloticus) được nhập vào miền Nam nuôi thử và kết quả cho thấy đây là loài cá lớn nhanh, kích cỡ lớn và đẻ ít nên được nhiều người ưa chuộng.

Năm 1994 cá rô phi dòng GIFT (dòng cá rô phi vằn thuần chủng Oreochromis niloticus) liên tiếp được di nhập vào nước ta từ Đài Loan, Ai Cập, Thái Lan, Philippin và đặc biệt loài cá rô phi xanh (Oreochromis aureus) cũng được nhập vào nước ta từ Cuba nhưng vẫn còn đang nuôi thử nghiệm.

Mặc dù cá rô phi nhập vào nước ta từ nhiều nơi khác nhau, nhưng nguồn gốc chính của chúng là Châu Phi.

Trở lại chuyện câu rô phi ở đây, chính là loại rô phi vằn nhập vào Việt Nam năm 1974 và 1994, phổ biến nhất các ao hồ hiện nay. Lợi dụng đặc tính “cầu kỳ” và “kỹ tính” của cá rô phi, dân câu chịu rét lặn xuống đáy hồ nạo vét sẵn những cái ổ cá, (hay còn gọi là mà cá, mề cá), và đánh dấu vị trí sở hữu của mình theo những cách riêng. Hôm sau họ bắt đầu câu. Cách câu rất đặc biệt, không dùng mồi hay thính, chỉ có một chùm 6 lưỡi câu nhỏ tết lại, gọi là lưỡi lục, được thả xuống giữa ổ đã được nạo vét sẵn. Vốn dĩ ưa sạch sẽ gọn gàng, con rô cái lập tức dùng miệng gắp cái chùm lưỡi câu đáng ghét ra khỏi ổ của nó. Lúc này thường cái phao trên mặt nước sẽ bềnh lên, người câu khẽ búng nhẹ là chùm lưỡi câu đã găm vào con cá, thường là vào quanh miệng. Nhanh chóng gỡ lưỡi câu, thả cá vào lưỡi, rồi tiếp tục buông chùm lưỡi xuống ổ, sẽ có một con cá khác đến thế chỗ ngay sau đó. Nên nhớ cá khắp hồ vào bờ để đẻ, nên số lượng rất lớn, chúng thường xuyên tranh nhau ổ. Gặp đàn cá, tha hồ nhấc hết con này tới con khác. Nhưng nếu câu lên con rô đực, thường là sẽ tan đàn, và phải rất lâu sau mới câu được tiếp, khi có một con cá đực khác vào thế chỗ. Cá cái sẽ bỏ đi ngay nếu không còn rô đực.

Có thể bạn sẽ cho rằng đây là một cách câu không mấy văn minh, do nhằm vào mùa sinh sản của chúng. Nhưng bạn khỏi lo chuyện đó, tạo hóa rất công bằng khi đã phú cho loài cá này một bản năng sinh tồn tuyệt vời. Dù bạn có câu giỏi đến đâu đi nữa, loài cá này vẫn phát triển mạnh mẽ, với số lượng rất lớn. Những ao không được đánh bắt, chúng thiếu thức ăn và rồi cũng tự triệt tiêu lẫn nhau, trước khi triệt tiêu các loài cá khác. Do cách câu đặc biệt này nên nhiều người mê mẩn, cả năm chỉ đợi dịp tết để được đi nhấc rô mề.

Dân câu gọi cách câu này là đi nhấc rô mề, bởi những con cá rô béo núc ních đầy trứng, nấu canh chua ngày tết ngon tuyệt vời. Cách nấu rất đơn giản, người ta làm sạch cá, để nguyên con, nấu cùng dứa, hành, thì là, rau ngổ, gừng, nghệ, tai chua, khế chua và cà chua. Chuẩn bị sẵn một bát nước mắm nguyên chất loại ngon dầm gừng và ớt tươi thái chỉ. Khi nào ăn mới vớt cá ra đĩa, rưới nước mắm lên. Ăn ngay khi còn nóng hôi hổi, làm mồi đưa cay thì cũng khá là tốn rượu. Những ngày tết mâm cao cỗ đầy mà húp bát canh chua cá rô mề vàng ươm, thật ngon không bút nào tả xiết!

Dù câu được ít hay nhiều, đi câu đầu năm là một thú vui đặc biệt của dân câu Hà Nội, là một cách hòa mình vào cùng thiên nhiên, cảm nhận khí xuân trong lành. Và con cá cũng như tượng trưng cho cái lộc của trời đất, báo hiệu một năm mới an lành no ấm.

Lượt phượt đầu xuân

In Uncategorized on Tháng Một 12, 2009 at 8:42 sáng

Số báo tết vừa in bài này, bốt lại để kích động tinh thần các tay phượt nổi cơn hâm lên mà đi hành xác.




+ Đính chính: Chữ phượt là do bác Tủm Ivy Mode phát minh ra, là rút gọn từ lướt và phịch (bạn gái nào không hiểu phịch là gì thì PM!)