dangthieuquang

Archive for Tháng Mười Hai, 2008|Monthly archive page

Vua xứ mù 12

In Uncategorized on Tháng Mười Hai 31, 2008 at 1:53 chiều

Kể từ đó, ngày ngày quan thái sử Triệu Văn đều ghé qua tôi uống trà, đàm đạo chuyện thế sự. Ông ta là một người thông minh và có trí nhớ tuyệt vời, nếu sinh vào thế kỷ hai mươi, hẳn học vị giáo sư tiến sĩ với ông ta chỉ là chuyện nhỏ. Bỏ qua tất cả những khác biệt về thế giới quan của hai kẻ vốn dĩ sống cách nhau những gần hai ngàn năm, những cảm nhận của ông ta về mọi thứ, ví dụ như trà ngon, hoa đẹp, hay những rung động trước những thay đổi tinh tế của thời tiết, đại loại thế, thì ông cũng giản dị như chúng ta ngày nay mà thôi. Nói ra nghe hơi buồn cười, nhưng đôi khi tôi cảm thấy ông ta gần gũi thân thiết hơn cả những đồng nghiệp cùng văn phòng với mình, nhất là tay trưởng phòng bị bệnh đau dạ dày. Chỉ nghĩ đến anh ta, cái kẻ hay cáu kỉnh ấy, là dường như huyết áp tôi lại tụt xuống. Rồi ngay sau đó tôi thở phào khi chợt nhận ra rất có thể tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại kẻ đó nữa. Ơn trời!

Nhưng có một chuyện tôi nghĩ cần phải kể ra đây, nó khá là nực cười. Tôi không nhớ rõ nữa, đâu như sau bữa trưa, lúc tôi đang gà gật định chợp mắt một chút lấy sức soạn thảo bản kế hoạch vĩ đại của mình, thì chuông điện thoại đổ dồn. Tôi nhìn thấy số máy văn phòng hiển thị. Phải nói là tôi ngạc nhiên thế nào, vì trước đó tôi cứ ngỡ chỉ liên lạc một chiều, chỉ tôi gọi về chứ không ai gọi lại được. Ai dè…

Tôi nghe máy, giọng the thé của tay trưởng phòng như xé màng nhĩ: “Cậu biết bây giờ là mấy giờ rồi không hả?”. Tôi nhìn ra sân lúng búng nói chung là em không biết, chắc đang chính ngọ, chùm lông đỏ trên chóp nón lính cấm vệ đỏ chót, phất phơ theo gió. Tôi kê điện thoại ra xa khỏi cái tai của mình, hơi lạ, vì không hiểu tôi đã thôi không đi làm bao nhiêu ngày rồi, mà sao anh ta vẫn la hét như thể tôi vẫn là thuộc cấp của anh ta vậy. Nhưng tôi vẫn muốn nghe lại cái giọng the thé từng khiến tôi tụt huyết áp ấy, không hiểu tại sao nữa. Có thể là để tin chắc rằng đó đã từng là một thế giới có thật, từng tồn tại, mà tôi đã đánh mất bằng cách nào đó. Tôi thấy thật quý giá làm sao những thứ từng rất đáng ghét và tầm thường đó, như cái bàn làm việc nhỏ bé chật chội của tôi, cái màn hình 14 inch hiệu SAMTRON cũ kỹ, vỏ vàng ố, sản xuất đâu như vào năm 1999, và chiếc máy tính Pentium III 800 Hhz nữa… Ôi, chúng làm tôi nhớ đến phát khóc lên được, chúng đã trở nên quá xa xôi!

Tôi cứ vâng vâng dạ dạ ậm ừ với tay trưởng phòng. Rồi bỗng dưng tôi hỏi: “Dạo này anh có còn đau dạ dày không? Ừ không em hỏi thế thôi, lúc nào em xin thuốc của quan ngự y rồi gửi cho…”

Ở đầu bên kia đầu dây điện thoại, nơi tận cùng thế giới, tôi nghe một tiếng thở hắt ra đầy kinh ngạc xa xăm, nó đã vọng về quá khứ nơi tôi đang ở đây. Rồi có tiếng lí nhí, và cái giọng the thé kia, đến lượt nó cũng hụt hơi nốt. Những tiếng lạo xạo nhiễu sóng. Rồi sau đó câm lặng, tắt lịm. Tôi nhớ đến dự án xây dựng khu resort bao gồm những ngôi nhà bắt chước mẫu nhà ở truyền thống của các dân tộc thiểu số mà chúng tôi đang làm dở dang, không hiểu số phận của nó giờ này ra sao nữa. Tôi thấy thương cho những đồng nghiệp ở lại đang vất vả chống chọi với áp lực công việc, áp lực và áp lực, liên tục, ngày này qua ngày khác, luôn luôn thiếu thời gian, luôn quá trễ để sửa chữa những sai lầm. Một trong những người đáng mến là cậu em Cáo, tên thật là Cao Sơn, có dáng người thư sinh, với một tâm hồn nhạy cảm. Trong những phút hiếm hoi tâm sự giữa bữa cơm trưa, sau khi ngắm nghía những miếng thịt buồn thiu trong hộp cơm, cậu ta thường bảo tôi: “Ước mơ của em là được bỏ đi khỏi nơi này, và không bao giờ phải ngửi thấy mùi nước mắm cơm hộp nữa”.

Tuy không nói ra, nhưng tôi biết cậu ta muốn được tự do như con Cáo nhỏ, như chồn hoang giữa rừng, mong manh dễ vỡ, và luôn thảng thốt giật mình khi nghe thấy cái giọng the thé của tay trưởng phòng vọng lại từ hành lang. Những âm thanh quen thuộc như vọng lên trong tai tôi, tiếng cánh cửa phòng sập lại, tôi có thể phân biệt chúng khác nhau như thế nào, ai là người ra vào, chỉ qua những thứ âm thanh ấy. Cáo luôn khép cửa nhẹ nhàng, dịu dàng như một cô gái ý tứ gia giáo. Tay trưởng phòng bước vội, lập cập đóng cánh cửa, và luôn bị bật chốt. Cô gái trực điện thoại văn phòng có bước chân nặng nề, và cái lối vặn nắm đấm cửa lạch cạch của cô ta, sau đó thò đầu vào hỏi có anh nào không ăn cơm hộp không để em báo cắt cơm. Sự im lặng bất đắc dĩ sau đó thật bất nhã, chẳng ai muốn ăn cái thứ kinh khủng đó, nhưng không thể nói không, với 30 phút nghỉ trưa thì chả có nhiều lựa chọn, khi hàng cơm bụi gần nhất cũng cách đó hai dãy phố, và nó cũng chả khá gì hơn mấy thứ đóng hộp này.

Cáo dán mắt vào màn hình, tranh thủ lướt web, trong khi tay phải di chuột thì tay trái cậu ta vẫn cầm thìa xúc đều đặn những thìa cơm tọng vào họng, nhai trệu trạo, gân cổ nổi lên những đường xanh xanh mờ nhạt. Cậu ta mê motorcross, những chiếc xe cào cào chạy địa hình ấy, góc bàn làm việc dán đầy hình xe cộ, và cậu ta đặc biệt mê xe container, bởi cuộc đời chúng là những xa lộ, là những hành trình xuyên màn đêm, cô độc, kiêu hãnh, có mục đích rõ ràng.

Tôi sẽ trôi đi với những nuối tiếc mơ hồ về một thuở nhởn nhơ, rồi sau đó đau đớn nhận ra tôi còn hai đứa con gái bé bỏng đang chờ tôi tha mồi về tổ, chúng thật ngây thơ vô tội, hai cái tàu há mồm ấy, ngày nào chúng cũng há những cái mỏ xinh xinh ra đớp đớp những hộp sữa chua yaourt Vina Milk thun thút, hết con chị lại con em, bắt chước nhau, không chịu kém miếng bao giờ. Lòng tôi rộn lên những tình cảm dịu dàng đau đớn khó có thể gọi tên, và bao nhiêu những nuối tiếc vẩn vơ tan biến, tôi đậy nắp lại hộp cơm nhai dở, và lại cắm đầu vào màn hình máy tính, tiếp tục vẽ những bản vẽ liên tu bất tận, không quan tâm đến việc những bản vẽ ấy rồi sẽ thành những thứ gì, cho ai, như thế nào, khi nào, vân vân và vân vân những vấn đề mà tôi nghĩ chẳng liên quan quái gì đến tôi cả.

Nhưng giờ chúng hiện lên thật rõ nét. Tôi đang thực sự ở trong một ngôi nhà cổ xưa nhất mà tôi từng biết, và toàn bộ những sự hời hợt của tôi, về tri thức, cũng như bản chất, tất cả hiện lên không thể chối cãi. Tôi chả biết cái quái gì cả. Tôi hỏi quan thái sử về những thứ mà con người
phải trông cậy vào, ở cái thời thổ tả này. Người ta phải giữ lửa, bằng con cúi rơm, không tiện lợi bằng chiếc bật lửa Bic mà tôi mang theo. Người ta phải trân trọng từng thứ nhỏ nhặt nhất, từng hạt cơm, dù là cơm hộp đi nữa, bởi vì mùa màng thì chẳng ai nói trước được điều gì, có thể ngày mai ngay đến cả vua cũng không có cơm mà ăn, đại loại vậy.

Trong lúc tôi chuẩn bị những kế hoạch cho muôn dân cái vương quốc nhỏ bé này, tôi học được rất nhiều từ họ, từ vị quan thái sử khiêm tốn kia, từ những hồi ức về cuộc sống cũ đã không còn nữa. Việc tìm kiếm một lý do để sống tiếp không mấy khó khăn, nhưng nó đã mất hết những lớp vỏ bọc màu mè kiểu như trách nhiệm xã hội, chuẩn mực thông thường, sự ổn định, một chỗ đứng…

Rõ ràng tôi không định kiếm bổng lộc ở đây, nó quá thừa thãi. Danh tiếng cũng quá thừa thãi. Chỉ còn là một sự lưu đày không hơn không kém, nơi mà tôi ngày ngày nhớ vợ thương con, và mày mò tìm ra một lựa chọn đúng cho mình, cho những kẻ đang bị kẹt cùng tôi ở đây. Họ đang khao khát một đế chế độc lập, ổn định, giàu có, thịnh vượng. Nhưng họ không dám phát triển, bởi nếu phát triển thì sẽ bị phát hiện ra, bị đập chết ăn thịt bởi kẻ mạnh hơn, ngay tức thì, hoặc một cuộc ngắc ngoải từ từ, kéo dài, héo hon dần dần. Tình thế thật là tiến thoái lưỡng nan.

Tôi không chắc cái xứ này là ở đâu nữa. Tôi chỉ nhớ lúc cùng Châu Long rời Sông Thiêng và Linh Sơn, chúng tôi đi về phía tây, vượt qua bao đèo cao núi cả, băng sông vượt suối. Đoàn tùy tùng người ngựa, cả thảy gần chục người và tám con ngựa nòi, đến nơi đây thì đau ốm rơi rớt gần hết chỉ còn tôi và Châu Long, cùng một gã dẫn đường kiêm phục vụ. Ngựa thì thay hết sạch, dọc đường phải mua giống ngựa Mán, tuy trông nhỏ bé nhưng dẻo dai, chỉ giống ngựa này mới leo nổi những con đường mòn vượt qua đèo núi đá tai mèo lởm chởm.

Kinh thành nằm lọt giữa những dãy nũi cao ngất vây quanh, nó là một kỳ quan của tạo hóa, giữa thiên la địa võng những vách núi tường mây, tự dưng một thung lũng thiên đường mở ra, với những cánh đồng lúa xanh mướt nối nhau chạy dài tít tắp. Những con sông đào chạy bao quanh thành vừa là hệ thống tưới tiêu, lại vừa là hệ thống phòng thủ. Dân cư sống lẫn cả trong thành lẫn ngoài thành, theo một hệ thống quản lý nào đó tuy chặt chẽ nhưng kém linh hoạt, không mấy kích thích họ phát triển. Vì giao thương buôn bán với bên ngoài hoàn toàn nằm trong vòng kiểm soát của triều đình. Tôi không nhớ đã đi bao nhiêu ngày đường để đến đây nữa, nhưng khi chúng tôi đến, họ đều đã biết tôi là ai, đến đây để làm gì, cả kinh thành đều biết, từ trẻ con đến cụ già. A! Chúng bay ơi! Đạo sĩ và Châu Long cô nương kìa, bọn trẻ reo lên chạy theo sau.

Chúng hát rằng:

Rồng rắn lên mây

Có anh đạo sĩ

Có chị Châu Long

Trai tài gái sắc

Phò vua giúp nước

Ghi tên sử vàng

Đạo sĩ cũng đẹp

Châu Long cũng xinh

Hai bên thuận tình

Gia đình đồng ý

Mặt ngoài còn e

Đợi vua cho xe

Thêm đôi song mã

Đưa nàng về dinh

Đẹp cả đôi đường

Uyên ương hồ điệp

Giấc mộng ngàn năm

Hóa ra là thật

Còn chờ chi nữa

Bay tận trời xanh

Tôi và Châu Long nhìn nhau tủm tỉm cười, chúng tôi cưỡi một đôi ngựa, đi nước kiệu song song tiến vào giữa chốn kẻ chợ, đi đến đâu dân tình dạt sang hai bên tránh đường, trẻ con chen nhau chạy theo hò reo, thật còn hơn cả vua giá lâm. Những lời đồn đại quả là mang một sức mạnh lạ kỳ, thu hút hết thảy, và biến thành truyền thuyết từ lúc nào. Họ xì xào bàn tán rằng tôi trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, tu luyện bao nhiêu kiếp trên Linh Sơn, có thể cân đẩu vân và sử dụng 72 phép biến hóa của Tôn Ngộ Không, cây thiết bổng TiCa của tôi khi thu gọn lại nằm lọt trong bàn tay, khi đánh nhau với yêu quái hay cá thần thì có thể kéo dài ra muôn trượng, lại có dây cước thần tàng hình trong suốt, mảnh như tơ nhện mà trói chặt cá thần lẫn quái vật. Ngoài ra họ tin rằng tôi có nhiều bảo bối vô địch thiên hạ, nắm rõ binh thư yếu lược, biết bày trận bát quái, mê cung. Họ tin rằng tôi sẽ đem đến thái bình cho thiên hạ.

Tôi nghĩ nhận giải Nobel hòa bình chắc cũng chỉ vinh dự đến thế là cùng.

Tôi không thể phụ lòng tin của họ được. Nhất là nhà vua.

Tôi nghĩ tôi đã sống thiếu lòng tin và sự trông đợi của ai đó đủ lâu rồi, và cả một thời đại không có vua kia nữa. Tôi luôn cảm thấy mình sinh nhầm thời, bị đặt sai chỗ, và bây giờ thì tôi hết kêu ca than van về chuyện đó, tôi đã được đặt lại đúng chỗ của mình, rất gần với ông Trời, tha hồ làm mưa làm gió. Tinh thần hiệp sĩ từ những cuốn sách và những bộ phim kiếm hiệp rẻ tiền mà tôi đã xem dạo mới lớn, rồi thì trí tưởng tượng lan man bất kham đã khiến tôi không bao giờ có đủ tập trung làm được một việc gì ra hồn trong cái thế giới cũ kia, giờ xem ra có dịp được thỏa sức tung hoành. Tôi vốn không đủ dũng khí để vẽ một bản thiết kế khác thường, bởi luôn nghĩ rằng mình bị gò bó bởi những ràng buộc nào là suất đầu tư, công nghệ, nguồn lực, và nhất là bởi vì ở nơi đó tất thảy đều có thể cười khẩy vào những mơ mộng hay điên rồ của tôi. Nhưng ở đây tôi có thể bảo họ làm tất cả những chuyện hoang đường nhất, xây dựng lên những thứ quái đản nhất, tốn kém nhất, xa xỉ nhất có thể nghĩ ra nổi. Vấn đề là tôi có đủ điên đến mức ấy hay không mà thôi.

Nếu thích, tôi có thể tự xây cho mình một cái kim tự tháp Ai Cập ngay ở đây, to hơn bất cứ cái nào của các Pharaoh. Nhưng mà để làm gì cơ chứ? Để sau đó vài ngàn năm bị bọn trộm đào mồ mả mình lên à?

Hay là xây một cung điện cao ốc chọc trời? Hay là xây dựng Đế chế An Nam thành bá chủ và thống nhất thiên hạ? Biến những tên tuổi như Thành Cát Hung Hãn thành một trò trẻ con, còn Napoleon chỉ còn là một gã hề lùn gắn lon sĩ quan pháo binh. Tôi ghét uống Brandy Napoleon, nó hăng và gây shock. Tôi thích cognac Pháp. Có lẽ tôi sẽ phải đóng tàu, thành lập Hạm đội Biển Đông, thôn tính Pháp và toàn bộ Châu Âu. Còn Trung Hoa thì sao? Đây là vấn đề nan giải đây, quân Shang vừa đông vừa rẻ, ý chí thì như kiến lửa, rất khó kiềm chế. Tốt nhất không nên chọc vào ổ kiến lửa, phải có một chính sách ngoại giao mềm dẻo, thực dụng. Không có chỗ cho s
quá khích ở đây.

Quan thái sử cho tôi biết hiện nay vương triều này không hề có một chiếc thuyền nào, đừng nói đến hạm đội. À mà có một chiếc đấy, ông ta sực nhớ ra, đó là chiếc thuyền rồng hay đưa nhà vua dạo chơi Hồ Ngọc bên kia vườn thượng uyển.

Tôi nghĩ đến không quân nữa. Ái chà chà, gay go đây, có thể chế tạo ra tàu lượn gắn động cơ, khinh khí cầu như Biết Tuốt, Mít Đặc và các bạn đồng bọn. Có thể mày mò chế tạo ra được vài thứ máy móc. Gọi điện thoại cho người thân, trợ giúp 50/50 ư? Có thể, nếu gọi được, tôi sẽ đem ngân khố của nhà vua đổi lấy vài món nào đó thuộc dạng hàng khủng, kiểu như một chiếc máy bay xịn như của bầu Đức – Hoàng Anh Gia Lai chẳng hạn (tôi nhớ ngay trước thời điểm bị lời nguyền cá thần, trong lúc tranh thủ lướt web giờ cơm hộp trưa, tôi đọc được đâu đó trên Dân Trí lá cải đưa tin tay bầu Đức này vừa mua một chiếc máy bay riêng 6 triệu đô)

Hay chơi một chiếc trực thăng, xe tăng luôn cho máu?

Nhưng đáng tiếc là gần đây chiếc điện thoại hầu như không thể gọi được về thế giới hiện đại nữa, nó rất thất thường, liên tục mất sóng. Tôi chỉ còn trông đợi ở trợ giúp từ máy tính, từ tri thức, những tiện lợi từ điện thoại đang dần dần từ bỏ tôi. Vả lại, trữ lượng vàng bạc của nhà vua và dân chúng cũng có hạn, nó không lớn như ta vẫn hằng tưởng. Thử nghĩ mà xem, sau một lịch sử lâu dài ngần ấy năm trôi qua, nó đâu có biến mất đi, ngược lại là khác, nó được khai thác và bồi đắp ngày một nhiều, theo cấp số nhân. Vậy mà vẫn cứ hiếm, vẫn ít ỏi, thử hỏi cách đây hai ngàn năm nó còn quý hiếm và ít ỏi tới đâu. Chẳng qua dân số thời đó ít, nên tương quan nhu cầu và số lượng khiến cho vàng bạc có vẻ như luôn sẵn trong ngân khố, như tiền mặt của chúng ta thích in bao nhiêu thì in vậy.

Tôi đã nghĩ tới việc lũng đoạn tiền tệ của triều đình này bằng cách kiếm một chiếc máy in màu, một chiếc máy cán tráng nilon, thay thế toàn bộ hệ thống tiền xu và vàng thoi bạc nén hiện hành. Nhưng nghĩ lại, như thế mà làm gì? Tôi đâu cần những thứ vật chất xa hoa, giàu có mà làm gì? Đức vua không nói chơi. Tôi có thể được ông ta chia cho cả vương triều này kia mà. Nhưng nhất định vẫn phải thay thế bằng tiền giấy, polyme thì càng tốt, nhưng đào đâu ra, thôi thì có gì dùng gì, có nấy dùng nấy, ATM thì khỏi mơ.

Tôi sẽ phá bỏ độc quyền buôn bán và phân phối một số mặt hàng quan trọng khỏi những thế lực của triều đình, khuyến khích dân buôn bán tứ chiếng đầu tư vào Tây Kinh, khuyến khích mọi thành phần ở đây tham gia con đường tơ lụa, gia nhập WTO, cho kẻ nào nhanh nhẹn khôn ngoan thì tồn tại, kẻ khờ thì bị đào thải.

Nhưng Đế chế sẽ mạnh lên trông thấy, từng ngày, từng giờ. Ba cái mớ lý thuyết sáo mòn học vẹt xem ra lại có tác dụng tức thì ở đây, với liệu pháp shock, liệu nhà vua và toàn thể triều đình có chịu nổi nhiệt không nhỉ? Cái hạn mười ngày sắp hết rồi.

Thi thoảng đức vua lại ghé thăm tôi, cùng hoàng hậu đi kèm. Họ âu yếm nhìn tôi và mỉm cười bí hiểm.

Niềm an ủi của tôi là dẫu trò đùa này oái oăm đến thế nào đi nữa, cuối cùng rồi thì tôi cũng sẽ phải có lời giải đáp.

Những phần khác:

Vua xứ mù Vua xứ mù 2 Vua xứ mù 3 Vua xứ mù 4 Vua xứ mù 5 Vua xứ mù 6 Vua xứ mù 7 Vua xứ mù 8 Vua xứ mù 9 Vua xứ mù 10 Vua xứ mù 11 Vua xứ mù 12 Vua xứ mù 13 Vua xứ mù 14 Vua xứ mù 15 Vua xứ mù 16

Vua xứ mù 11

In Uncategorized on Tháng Mười Hai 25, 2008 at 2:03 chiều

Việc đầu tiên mà tôi phải làm, đó là xác định niên đại mà ông vua Minh Hoàng đang trị vì nước Việt cổ, cứ tạm cho là như thế. Phải xác định mình đang ở đâu đã chứ, phải không nào? Nhỡ đâu tôi lại đang ở một vương quốc tự trị nhỏ bé nào đó thuộc nhà Hán thì sao? Hoặc tệ hơn, đây chỉ là một tộc người thiểu số nào đó vùng biên giới nam của nhà Thục, ví dụ thế, thì quả thật là một sự sai lệch khủng khiếp. Tôi sẽ phải chọn đúng vị vua cho mình, hoặc tạm coi như đó là một minh chủ đi nữa, điều đó không quan trọng, miễn là vị minh chủ đó phải là vua nước Việt sau này. Đáng tiếc là khi cho tôi trở về đâu đó trong quá khứ mấy ngàn năm, con cá thần không hề thông báo chi tiết về nơi tôi sẽ đến, và có thể chính nó cũng chẳng hề có bất cứ khái niệm gì về vùng và lãnh thổ cả. Tự tôi phải tìm hiểu mà thôi. Dựa vào những gì trông thấy, tôi đoán rằng mình đang ở thời kỳ Bắc thuộc, sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Tôi nhớ một lúc nào đó, trong lúc dạo chơi vườn thượng uyển, ông vua Minh Hoàng đã nhắc đến tấm gương hai vị nữ tướng oanh liệt, ông ta cũng nhắc đến nhà Hán, với một sự chua chát và bực bội rõ ràng. Tôi có dò hỏi nhưng không thấy ông ta nhắc đến Bà Triệu và người anh trai Triệu Quốc Đạt, cũng như cuộc khởi nghĩa của anh em họ. Trong những câu chuyện lan man, ông ta tỏ ra rất vui mừng vì một đám giặc khăn vàng nào đó đang làm loạn nơi phương Bắc. Từ tất cả những điều trên, tôi suy luận ra rằng tôi đang ở vào khoảng đâu đó những năm từ 180 đến 190, lúc mà nhà Hán đang suy yếu, bị rối ren bởi những thế lực tranh chấp quyền lực, và nhất là bởi “loạn đảng Khăn Vàng”. Có lẽ lợi dụng thời cơ, vua Minh Hoàng đã xưng vương, xưng bá. Anh hùng nhất khoảnh, ông ta đã chọn một vùng đất hẻo lánh này để mưu đồ chuyện lớn, tranh thủ lúc nhà Hán đang lục đục mà củng cố quyền lực, xây dựng vương triều riêng.

Sau hôm say sưa ở vườn thượng uyển, tôi bắt đầu tìm hiểu về lịch sử Việt Nam và lịch sử Trung Hoa, hoàn toàn nhờ vào chiếc laptop mang theo và những thông tin trên mạng. Tôi cũng nhờ đám lính cấm vệ chuyển lời yêu cầu đến nhà vua, rằng tôi cần sự giúp đỡ của một vị quan chép sử, một người thông kim bác cổ. Ngay buổi trưa, đám lính dẫn một người đàn ông trạc tứ tuần đến, dáng dấp nho nhã, tóc điểm bạc, ăn vận đơn giản mà đẹp đẽ, rõ ra dáng một quan thái sử tài giỏi. Tôi chưa kịp chào thì ông ta đã vội chắp tay thi lễ:

– Hạ quan là Triệu Văn, xin bái kiến Minh Anh Đạo Sĩ!

– Ấy chết, không dám! – Tôi kêu lên – Bần đạo chỉ là một kẻ tuổi đời non nớt, học vấn nông cạn, được diện kiến đại quan đây mới là một vinh hạnh cho bần đạo, xin được đại quan chỉ giáo!

– Đạo sĩ trẻ tuổi tài cao, nhiều phép thuật linh nhiệm, vang danh thiên hạ, còn tôi bất quá cũng chỉ là một kẻ hủ nho chốn quan trường. Xin đạo sĩ chớ khiêm tốn!

– Vậy xin ngài hãy tự nhiên! – Tôi cười, khoát tay mời ông ta ngồi xuống tràng kỷ.

Đám thị nữ mang trà tới, họ khéo léo rót vào những chiếc tách bằng gỗ, được chế tác khéo léo. Tôi tranh thủ ngắm vị quan thái sử, ông ta có đôi mắt sáng luôn nhìn thẳng, khóe mắt nheo nheo như muốn cười, hẳn là một người ưa hài hước. Tôi cảm thấy có thể tin cậy được con người này.

– Mời quan thái sử dùng trà!

– Cảm ơn đạo sĩ!

– Món trà này rất ngon, hương vị thơm tho thanh khiết, xin quan thái sử cho ý kiến?

– Vâng, quả nhiên trà rất ngon! Hạ quan chưa từng thấy thứ gì ngon như vậy, ắt đây là trà vua ban rồi, chứng tỏ người rất sủng mến đạo sĩ đó. Hạ quan nghe nói thứ trà này do tộc người Man cống tặng, họ hái từ những cây trà trăm tuổi trên đỉnh núi Thiên Sơn quanh năm mây phủ, trà này uống vào giúp người phàm trần trở nên trường sinh bất lão.

– Cảm ơn đại quan! Quả nhiên ngài rất am hiểu mọi chuyện, đúng là người mà bần đạo đang tìm kiếm. Chẳng hay đại quan có sẵn lòng giúp bần đạo hay không?

– Xin đạo sĩ cứ nói, không phải giữ lễ!

– Vậy tôi sẽ không khách khí nữa nhé, tôi muốn đem chút sức mọn phò vua, giúp giang sơn xã tắc thái bình thịnh vượng. Hiềm nỗi tôi mới từ xa đến đây, lại nhiều năm tu luyện trên núi rời xa thế sự, không hiểu hết sử sách và chuyện triều chính bấy lâu, mong được đại quan chỉ dẫn. Điều đầu tiên tôi muốn hỏi ngài, năm nay là năm nào?

– Năm nay là năm Trung Bình thứ nhất Hán Linh Đế, thưa đạo sĩ.

– A, chính là năm 184, khởi đầu truyện Tam Quốc, lúc Trương Giác bắt đầu làm loạn đây! – Tôi thốt lên – Mình đoán quả không sai!

– Hạ quan không hiểu hết ý đạo sĩ nói, nhưng quả đúng phương Bắc đang có loạn đảng Hoàng Cân, chính vì thế chúng ta mới tạm được yên ổn được chút ít. Cách đây chưa lâu, nhà Hán vẫn còn xuất quân đánh vào vùng Yên Châu của ta, nhưng từ hồi có loạn Hoàng Cân, họ đã rút cả quan quân về lo đối phó. Tuy vậy vua và các quan vẫn e rằng mọi chuyện chỉ là nhất thời, nên tháng trước đã cử sứ thần mang sản vật và mỹ nhân đi cống nạp quan thái thú, xin làm một bộ tộc chư hầu.

– Chư hầu? – Tôi buột miệng – Vậy hóa ra đây chỉ là một bộ tộc man di chư hầu nhỏ bé nào đó của nhà Đông Hán?

– Vâng, thưa đạo sĩ! Chuyện này hạ quan không dám nói chơi. Bề ngoài thì là như vậy, nhưng thực ra bên trong thì không phải vậy. Sau tấm gương hai nữ vương Trưng Trắc, Trưng Nhị, biết bao cuộc khởi nghĩa khác cũng đã thất bại. Vì thế cách đây mười năm hoàng thượng đã phải bí mật chiêu quân tụ nghĩa, phủ dụ muôn dân đến khai hoang lập ấp, rồi lập nên một vương triều nhỏ, cũng chính là kinh đô chốn sơn khê hẻo lánh ngày nay. Dù đã cố gắng khéo léo che mắt nhà Hán, gây dựng cơ đồ, nhưng không thể giấu mãi. Năm ngoái quan quân nhà Hán đã phát hiện ra tiền đồn của ta ở phía đông, nhưng rất may chúng chưa kịp dò la ra thành Tây Kinh này thì đã lo sốt vó chuyện loạn đảng Hoàng Cân, chẳng hơi sức đâu dẫn quân đi tìm hiểu thêm nữa.

– Thành Tây Kinh! – Tôi kêu lên – Tôi chưa từng nghe đến cái tên này trong sử Việt, không phải là Tây Kinh của nhà Hán đấy chứ?

– Vâng, tất nhiên không phải là kinh đô Trường An của nhà Hán, đây chính là cách ngụy trang của triều đình ta, để dân chúng của ta nếu có đi lạc ra ngoài giao thương mà chẳng may lỡ nhắc đến Tây Kinh, cũng không bị quan quân nhà Hán để ý. Cũng chỉ là để phòng ngừa vậy thôi, chứ chúng ta
không giao thương với bên ngoài. Tất cả những giao thương đều do triều đình thực hiện bí mật.

– Rất hay! Nhưng có hiệu quả không? – Tôi nhìn ông ta nghi ngờ – Chả lẽ chỉ một mẹo nhỏ ấy lại có thể giữ cái kim trong bọc không lòi ra, suốt hàng chục năm nay?

– Quả thật nghe có vẻ khó tin, nhưng phép tắc rất nghiêm ngặt, suốt mười năm nay trong toàn bộ vùng đất phía tây hiểm trở này hầu như chỉ có người đến, không có người đi. Như hạ quan đã nói, năm ngoái chúng mới phát hiện ra tiền đồn lính sơn cước của ta ở Đông Lâm, may mà võ tướng Triệu Sơn trấn giữ biên ải cũng có chút mưu trí, trước khi rút khỏi đã kịp đốt phá xóa hết dấu tích. Hy vọng rằng chúng sẽ chỉ nghĩ ta là tộc người Man vùng hẻo lánh xa xôi, xin được làm chư hầu nhà Hán, như nội dung trong bức thư mà sứ thần đã mang đi tháng trước. Đành phải chờ thôi, hiện vẫn chưa có tin tức gì báo về. Nhưng theo tin mật từ nội gián của ta, nhà Hán và các quan lại của họ cai quản miền đất phía Nam này vẫn chưa hề hay biết gì về chúng ta. Họ vẫn cho rằng chúng ta chỉ là những nhóm sơn tặc và loạn đảng lẻ tẻ nào đó.

– Nghe chừng như thế thì tôi sẽ không bao giờ được phép rời chốn này?

– Vâng, thưa đạo sĩ, nếu không được phép của hoàng thượng, bất cứ ai rời bỏ khỏi kinh thành hay làng quê đều sẽ bị xử trảm.

– Thật khốn nạn thân ta chưa! – Tôi buột miệng lẩm bẩm.

– Sao lại khốn nạn, thưa đạo sĩ? Hạ quan ngu dốt không hiểu.

– À không, tôi chỉ lỡ lời mà thôi, xin ngài đừng chấp! – Tôi vội nói.

Ông ta khẽ nâng chén trà lên môi nhấp một ngụm nhỏ, kín đáo nhìn tôi, nét mặt thoáng ưu tư, vẻ hài hước hoàn toàn biến mất. Lát sau ông ta mới nhẹ nhàng nói:

– Đạo sĩ có biết vì sao hoàng thượng lại yêu mến đạo sĩ đến vậy không?

– Vì sao vậy?

– Vì hoàng thượng tin rằng đạo sĩ xuất hiện rất đúng lúc, đạo sĩ là món quà trời ban tặng giúp hoàng thượng mưu đồ việc lớn. Nhiều năm bị cầm chân trong chốn hẻo lánh này, bế quan tỏa cảng, không thể làm gì hơn được, người đang trở nên buồn bực và dễ cáu gắt. Đạo sĩ đã thấy đấy, hoàng thượng luôn mắng mỏ các quan trong triều.

– Cả ngài cũng bị mắng như vậy sao?

– Tất tật, không trừ một ai. Nhưng vì mọi người đều đã quen rồi, không ai lấy đó làm phiền muộn. Cho tới khi đạo sĩ xuất hiện.

– Tôi ư?

– Vâng, rất nhiều người cho rằng đạo sĩ là một Trương Giác thứ hai, há đạo sĩ không hay biết điều đó?

– Làm sao tôi biết được? – Tôi kinh hãi kêu lên – Tôi mới đến đây ngày hôm qua, đâu có ai cho tôi biết chứ? Họ coi tôi là kẻ phản loạn ư?

– Xin đạo sĩ cứ yên tâm! – Ông ta mỉm cười nói – Ít nhất có hoàng thượng và hạ quan không nghĩ vậy, ngược lại là đằng khác. Đạo sĩ tuổi trẻ tài cao, lại có tất cả những phép thuật giống như Trương Giác, thu phục được nhân tâm dân chúng. Nếu được đạo sĩ giúp cho, ắt đây là cơ duyên của giang sơn xã tắc An Nam ta.

– Cảm ơn đại quan đã quá khen!

– Đạo sĩ hãy cảm ơn hoàng thượng và hoàng hậu ấy!

– Tại sao lại phải cảm ơn cả hoàng hậu?

– Rồi sau này đạo sĩ sẽ hiểu – Ông ta mỉm cười, nói một cách lấp lửng, sau đó nâng chén trà lên nhấp môi – Chà chà! Thứ trà này quả thực là tuyệt trần!

Những phần khác:

Vua xứ mù Vua xứ mù 2 Vua xứ mù 3 Vua xứ mù 4 Vua xứ mù 5 Vua xứ mù 6 Vua xứ mù 7 Vua xứ mù 8 Vua xứ mù 9 Vua xứ mù 10 Vua xứ mù 11 Vua xứ mù 12 Vua xứ mù 13 Vua xứ mù 14 Vua xứ mù 15 Vua xứ mù 16

Vua xứ mù 10

In Uncategorized on Tháng Mười Hai 20, 2008 at 12:43 chiều

Rất có thể câu chuyện đã kết thúc ở đây, nếu lúc đó tôi nhận biết được tay nào là tay trái, tay nào là tay phải. Nghe thật buồn cười phải không? Bạn sẽ cho rằng đó là một chuyện ngớ ngẩn, hoặc tôi là một kẻ ngớ ngẩn. Nhưng tôi không thấy có gì khác biệt giữa tay trái và tay phải, tôi thấy hai cái vòng đeo tay bằng vàng trên cổ tay hai vị hoàng tử trẻ tuổi, tôi thấy hai cái lắc bạc trên cổ tay hai đứa bé gái của tôi, nhưng tôi không thể phân biệt đâu là con chị, đâu là con em, bởi với tôi phải trái lẫn lộn mất rồi.

Chỉ có ánh trăng là có thật. Tôi sực nhớ đến một câu nói nào đó, rằng nghệ thuật là ánh trăng dối lừa. So với chả sánh! Với tôi bây giờ thì ánh trăng là có thật hơn tất thảy mọi thứ. Những ý nghĩ mơ hồ, cơn ảo giác từ thuốc phiện còn chưa dứt, như một tấm màng bọc lấy cái đầu tôi, bọc lấy ánh trăng, bọc lấy cả mặt trăng, khiến nó to một cách lạ kỳ, như thể tôi đang nhìn qua kính viễn vọng vậy. Ồ, nó có thực đấy chứ? Nó đâu phải là một thứ ảo ảnh, chưa đầy hai ngàn năm sau, con người đã lên phi thuyền để tới đó, đặt chân lên cái mảnh tròn tròn phát sáng kia. Nếu tôi nói chuyện này với nhà vua, ông ta sẽ nghĩ sao nhỉ? Có vẻ ông ta sẽ tin vào tất cả những gì tôi nói, bởi vì trong mắt tất cả những con người này, tôi vừa như thánh hiển linh.

Vậy là tôi đã không quờ tay sang để tỉnh giấc, không thực sự muốn quay về thế giới thực. Mọi chuyện đã rõ, tôi để mặc cuộc phiêu lưu này tiếp diễn. Nhưng tôi bỗng nhớ vợ thương con vô cùng. Nước mắt tôi chảy dài trên gò má, bởi sự yếu đuối và cô độc vây quanh. Tôi đang ở một nơi chốn mà ngay cả tổ tiên của tôi cũng chưa sinh ra, nói chi đến những người thân thiết khác như cha mẹ, anh chị em… tôi thật lạc lõng trên cõi đời này, lạc lõng suốt hai ngàn năm sau, lạc lõng ở muôn vàn kiếp sau.

Tôi đã nhìn rõ hơn mặt trăng, nó sáng rõ như những ý niệm về thân phận con người vậy, chợt đến với tôi, một cách khó tin nhất. Tôi tin rằng tôi đang đối diện với mặt trăng theo cách chưa từng có con người nào đối diện, kể cả những phi hành gia, bởi vì không những tôi đối diện mà còn đối thoại với mặt trăng, bởi chúng tôi đều biết rằng tất cả, tôi và mặt trăng, đều vô cùng nhỏ bé trong thế giới bao la này, rằng tất cả cuộc đối thoại ngắn ngủi, thông điệp sáng rõ này, cũng đã trở thành một điều được sắp đặt sẵn, trong sự bao la ấy, đều cô đơn như nhau, giữa vũ trụ, giữa bây giờ và hai ngàn năm sau khi tôi, một lúc bất chợt nào đấy, lại ngắm nhìn mặt trăng bây giờ, và biết rằng mình đã biết mặt trăng này từ muôn kiếp trước.

Tôi nhỏm dậy trong bóng tối, tỉnh hẳn, đôi mắt đã dần quen với bóng tối. Đúng ra là vẫn có chút ánh sáng trăng nhợt nhạt hắt xuống, nhưng lúc ban đầu tôi không nhìn thấy cơ thể mình, và đó chính là lúc tôi tin rằng mình có thể tồn tại như một linh hồn, không cần đến thể xác, không cần phân biệt phải trái. Nhưng giờ thì hết rồi, tôi bắt đầu nhìn thấy những thứ khác xung quanh, tàn dư ảnh hưởng của á phiện hết hẳn. Tôi nhận ra ánh đèn bạch lạp leo lét phía phòng bên, sau tấm màn the mỏng.

Tôi không biết mình đang ở đâu nữa. Ánh trăng gợi nhớ lại bữa tiệc ban tối, nhưng tôi không rõ tôi đang ở đâu. Tôi đang ngồi trên một thứ, có lẽ là giường, có lẽ giống một cái bệ thì đúng hơn, rộng mênh mông, che rèm lụa mỏng, đầy vẻ vương giả. Tôi nhìn thấy đôi giày của mình dưới đất, bèn xỏ chân và đi ra phòng ngoài. Tôi nhận ra đây chính là nơi cấm vệ quân đã lột quần áo kiểm tra thân thể tôi, rồi sau đó các thị nữ tắm rửa cho tôi, trước khi vào cấm cung. Vậy là tôi đã được đưa trở lại phòng khách này, sau bữa tiệc, bằng cách nào đó không rõ, có lẽ bởi tôi đã bị say á phiện. Không biết tôi có làm hay nói điều gì ngu ngốc hay không nữa, chắc là không, bởi nếu có thì có lẽ tôi đã bị tống giam, hoặc bị chém đầu. Nhưng ngay cả khi đó tôi cũng không thể chết được, bởi vì có lẽ con cá thần nói đúng, tôi đã trở nên bất tử, trẻ mãi không già.

Tôi nhìn lướt qua tất cả những đồ đạc và hành trang mình mang theo, nó vẫn nguyên xi không thiếu thứ gì, kể cả quần áo. Thật buồn cười, khi đến đây tôi đã đóng một bộ com lê, sơ mi, ca vát rõ nghiêm chỉnh, cứ như chuẩn bị đến phỏng vấn xin việc làm ở một công ty vậy. Thế mà bây giờ, tôi lại đang mặc trên người một tấm vải lanh lụng thụng.

Tôi tìm bao thuốc lá trong chiếc cặp mang theo châm một điếu, rồi lững thững bước ra sân. Ngoài đó ánh trăng tràn ngập khắp nơi nơi, dát bạc lên những chiếc mái ngói vảy cá của cung điện, phủ lên những tán lá rung rinh đẫm sương, khiến chúng như phát sáng lóng lánh vậy. Bầu trời chi chít sao, tuyệt đẹp! Như hai ngàn năm sau vẫn vậy.

Tôi cứ ngắm mãi mặt trăng chếch sau rặng cây và bầu trời đầy sao ấy, lặng lẽ đốt thuốc, cho đến khi ba tiếng trống canh đâu đó rơi vào thinh không. Có tiếng bước chân người xa xăm, có lẽ lính gác, hoặc những con mèo đi hoang, không rõ nữa. Rồi tiếng sột soạt rõ dần, nó đến từ phía sau lưng, có lẽ chỉ chục bước chân. Tôi nhận ra mùi hương thơm quen thuộc, đó là Châu Long, tôi đã quên béng mất nàng.

– Nàng đó ư Châu Long?

– Vâng, thiếp tỉnh giấc vì mùi thuốc của chàng.

– Ta xin lỗi! Ta không nghĩ họ cho nàng ở gần chỗ ta đến vậy, ta say á phiện và chẳng biết chuyện gì đã xảy ra nữa.

– Chẳng có chuyện gì cả, chàng chỉ cứ nằm mãi trên chõng, cười không thành tiếng, rồi họ kiệu chàng về đây.

– Thế nhà vua bảo sao?

– Hoàng thượng nói kẻ nào lần đầu dùng rượu tiên và thuốc tiên của người cũng như thế cả.

– Ơn trời! May quá! Ta chỉ sợ đã làm điều gì thất thố, làm vua tức giận, lúc đó nàng cũng khó tránh khỏi liên lụy.

Châu Long đã đến sát bên tôi, nàng dịu dàng ngả đầu vào vai tôi âu yếm nói: “Thiếp được chết vì chàng thì cũng mãn nguyện lắm rồi”. Tôi cười, hôn lên đôi môi nàng: “Ta là đạo sĩ nên không thể chết được, chứ nếu không ta cũng sẵn sàng chết vì nàng”

Châu Long mỉm cười áp má vào cằm tôi, dưới ánh trăng trông nàng thật đẹp, rạng ngời hạnh phúc. Tôi vòng tay qua eo lưng tuyệt trần nàng, định gỡ chiếc dải lụa quấn ngang thay thắt lưng, cơ thể nàng quá ư hấp dẫn và gợi tình, tôi không chờ đợi được nữa. Gần như tôi đã ngầm đ
ược cha nàng cho phép làm chuyện này, kể từ khi cùng nàng rời làng quê lên chốn kinh kỳ, diện kiến nhà vua. Khắp chốn cùng quê, ai ai cũng đều biết vị đạo sĩ nổi tiếng đang chuẩn bị phò vua giúp nước, trong lúc giặc giã nổi lên khắp nơi, và ngoài biên thùy xa vó ngựa ngoại xâm lăm le giày xéo bất cứ lúc nào, chúng chỉ chờ cơ hội đến, khi triều đình rối ren.

Nhưng Châu Long đã khéo léo rời khỏi vòng tay tôi, một cách dịu dàng nhưng cương quyết. Nàng giống như một cơn gió vậy, một cơn gió thơm mát trinh nguyên.

– Chàng phải giữ gìn ngọc thể, cái hẹn mười ngày với hoàng thượng chàng đã quên rồi sao?

– Ừ nhỉ, ta suýt quên mất. Nhưng Châu Long nàng ơi, đêm nay cảnh khuya vắng trữ tình quá, ta không thể kiềm lòng, muốn cùng nàng trọn nghĩa ái ân…

– Thiếp biết ý chàng rồi, nhưng mà…

– Nhưng sao? Chả phải nàng thuộc về ta sao?

– Sau mười ngày nữa, khi vinh quy bái tổ, lúc đó cũng chưa muộn màng. Kiệu chàng đi trước, võng thiếp theo sau, trước làng trên xóm dưới chứng kiến, ắt hẳn phụ thân thiếp cũng nở mày nở mặt.

– Nàng thuộc bài lắm! – Tôi cười – Ta đã kể cho nàng nghe chuyện Lưu Bình – Dương Lễ, giờ nàng lại trêu ta phỏng?

– Chàng đừng giận thiếp nhé, hỡi chàng!

– Không, ta không giận nàng. Nhưng ngắm trăng ta bỗng dưng thấy cô độc quá, dù là kiếp người hay cõi thần tiên, dù ta là đạo sĩ hay người trần.

– Chàng đừng nói nữa, nghe chàng nói sao thiếp thấy muốn khóc, chả lẽ mai này thiếp sẽ chết đi, không được hầu hạ chàng mãi mãi sao?

– Đúng vậy – Tôi thở dài – Ta sẽ sống ít nhất hai ngàn năm nữa, nhưng nàng thì không thể theo ta. Chúng ta có duyên với nhau ở kiếp này, nhưng không có duyên ở kiếp sau, thôi đành vậy. Nhưng ta hứa ở kiếp này ta sẽ đối xử với nàng thật tốt, ta sẽ còn yêu nàng ngay cả khi nàng đã chết đi, cho đến ngàn năm sau nữa. Nàng hãy về phòng nghỉ đi!

– Nếu run rủi được gặp chàng ở kiếp sau, thiếp mong sẽ nhận ra chàng, được nâng khăn sửa túi cho chàng.

– Ta cũng vậy! – Tôi nói và hôn lên đôi môi Châu Long lần nữa, thật dịu dàng. Tôi dìu nàng trở về, xuyên qua những hành lang dài tối thẫm của kinh thành cổ, dưới ánh trăng lừa dối đang dát ánh bạc lên vạn vật trên thế gian này.

***

Sau khi Châu Long đi rồi, tôi quay trở lại với những ý nghĩ thực tế hơn, đó là cái hạn mười ngày của nhà vua. Tôi không mấy lo lắng, thậm chí rất tự tin vào những gì mà tôi đã nghĩ đến, đã chuẩn bị, kể từ khi lời ước của con cá thần linh nghiệm. Tôi mở cặp laptop ra, bắt đầu chuẩn bị đề cương kế hoạch cải cách sẽ trình cho nhà vua. Thực ra nó không mấy cần thiết, bởi vì nhà vua mù chữ, ông ta đâu có đọc được những gì tôi viết, ý tôi là chữ Việt này ấy. Các bạn nên nhớ là vào những năm thứ mấy đó sau Công nguyên, chữ Việt gốc Latinh này chưa hề xuất hiện, và ngôn ngữ Việt cổ cũng vậy, khác xa những gì tôi đang viết đây. Để dễ hình dung, bạn hãy tưởng tượng chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Ai Cập chẳng hạn, sau đó tôi dịch lại bằng tiếng Việt hiện đại, và đó chính là câu chuyện này.

Dù nhà vua không đọc được, nhưng tôi vẫn cần một bản kế hoạch tổng thể, rồi tấu trình nó cho nhà vua, trước toàn thể triều đình, tôi sẽ đọc nó, nhìn đầu mục các vấn đề để giải thích nó cặn kẽ. Hẳn sẽ vất vả lắm đây! Nhưng không hề chi, tôi đã sẵn sàng.

Vấn đề đầu tiên là ngôn ngữ và chữ viết nói riêng, sau đó là cả nền giáo dục nói chung. Tôi cần làm cho nhà vua hiểu rằng không thể vay mượn chữ Hán cổ. Nhất định phải phổ cập chữ Việt gốc Latinh ngay từ bây giờ, chỉ như thế tôi mới có thể truyền đạt tất cả kiến thức của mình cho đám quan văn kia, mới có thể khiến đám quan võ học được chút gì đấy và nghệ thuật chiến tranh tổng lực (nghe khiếp chưa?). Chỉ như thế tôi mới có thể làm được điều gì đấy thay đổi được lịch sử, và rồi tôi sẽ tìm được đường về nhà, tìm ra được mình thực sự là ai, bây giờ, và hai ngàn năm sau.

Tôi đã kịp trang bị cho mình tất cả những phương tiện cần thiết, mà trong đó thứ quan trọng nhất chính là thông tin. Vì vậy tôi đã gọi điện yêu cầu đổi số vàng bạc có được nhờ bán bật lửa và những thứ vớ vẩn khác, để lấy chiếc máy tính xách tay, cùng với modem wifi, cả đường truyền ADSL nữa, nó được nối với một thiết bị đầu thu tín hiệu vệ tinh chuyên dụng, có lẽ nó thu từ vệ tinh VINASAT-1.

Nhờ có kho dữ liệu khổng lồ trên internet, tuy không đầy đủ lắm, nhưng tôi có thể tìm hiểu kiến thức về bất cứ lĩnh vực nào, rồi tìm cách áp dụng vào cái thời đồ đá này. Nói vậy thì hơi oan, đây là thời đồ đồng rồi, văn minh nhân loại cũng đã có những bước tiến nhất định. Tôi vẫn chưa thể xác định chính xác đây là năm bao nhiêu. Có lẽ người ta đã có những nhầm lẫn cơ bản về thời kỳ này, những nhà chép sử ấy, họ đã bị tru di tam tộc, và giai đoạn này là một khoảng trống lịch sử, bị lãng quên hoàn toàn. Lịch sử đã bị đứt gãy ở đây, một sai sót nhỏ của tạo hóa, và có thể đó chính là lý do mà tôi bị kẹt ở đây, để nối lại khúc đứt gãy đó.

Ví dụ, tôi sẽ phổ biến kiến thức và kỹ thuật làm giấy, chữ viết, in sách, để sau này nhân loại sẽ ghi nhận nền văn mình Việt là tiến bộ nhất, vĩ đại nhất. Chỉ nghĩ đến thế thôi tôi đã thấy vô cùng hào hứng. Tôi sẽ là người đầu tiên tìm ra Châu Mỹ, là người đầu tiên nói rằng trái đất là quả cầu tròn, là người đầu tiên tuyên bố nếu các ngươi cho ta một điểm tựa, ta sẽ nâng bổng cả trái đất, thậm chí tôi cũng sẽ là người đầu tiên phát minh ra máy bay luôn. Tôi sẽ là siêu nhân, là thánh sống, là huyền thoại vĩ đại nhất trong lịch sử, và trở nên bất tử.

Tôi hiểu rằng mình đang trở nên quá khích, và quá tham lam, điều này là cực kỳ nguy hiểm. Không thể vội vàng như vậy được, phải làm mọi thứ theo một trình tự nhất định, hài hòa và hợp lý. Nếu như mọi chuyện được làm theo cách đúng đắn, tôi sẽ có đủ thời gian để thực hiện tất cả những điều điên rồ nhất có thể nghĩ ra được, còn nếu không nó sẽ đổ vỡ tan tành, tôi sẽ lại kẹt vào một thời điểm nào đó khác, trước khi có sự sống chẳng hạn, tôi sẽ chỉ còn là một linh hồn lang thang trong vũ trụ không nơi bấu víu, không thân xác để trú ngụ, mòn mỏi chờ đợi sự sống xuất hiện, hoặc tôi sẽ bị lạc trong vũ trụ
en tối sâu thẳm kia. Sau tất cả những gì đã xảy ra, những gì tôi đã trải qua, với tôi bây giờ không gì là không có thể.

Thật khó giải thích được tâm trạng tôi bây giờ, hẳn bạn sẽ cho rằng chẳng qua tôi bị chất á phiện gây hoang tưởng. Vâng, cứ cho là thế đi. Tất cả những suy nghĩ của loài người, suy cho cùng cũng chỉ đều là những loại hoang tưởng khác nhau mà thôi. Kể từ thuyết tương đối của Albert Einstein trở đi, thuyết vạn vật của Stephen Hawking, cơ học lượng tử, cơ học thống kê, triết học, cho đến toàn bộ thành tựu khoa học, hay cho đến cả những tín điều của một kẻ thất phu quê kệch mê tín quanh năm cắm mặt vào ruộng lúa vẫn tin vào, toàn thể nhân loại, qua hàng triệu năm tiến hóa và phát triển… những gì mà con người có thể suy tưởng, chỉ là một trong vô vàn trò đùa bí hiểm nào đó của tạo hóa mà thôi.

Bạn sẽ cho rằng tôi đang muốn làm phép tiến hóa ngược. Sao cũng được, nếu trí tưởng tượng của bạn quá nghèo nàn, lười biếng, không thể hình dung ra một thế giới nào khác mà bạn đang sống, hãy gấp cuốn sách này lại ngay bây giờ, bật ti vi lên giết thời gian bằng một show truyền hình giải trí ngu ngốc nào đó. Vậy thôi. Nhưng bạn nên nhớ rằng hai ngàn năm trước, có một kẻ đang tiếc cho bạn, vì đã để lỡ dịp tham quan một thế giới khác hẳn, một khúc đứt gãy trong lịch sử. Kẻ đang tiếc cho bạn chính là tôi, tất nhiên rồi, còn ai khác vào đây nữa.

Vậy hãy để tôi kể tiếp câu chuyện này cho bạn nghe.

Những phần khác:

Vua xứ mù Vua xứ mù 2 Vua xứ mù 3 Vua xứ mù 4 Vua xứ mù 5 Vua xứ mù 6 Vua xứ mù 7 Vua xứ mù 8 Vua xứ mù 9 Vua xứ mù 10 Vua xứ mù 11 Vua xứ mù 12 Vua xứ mù 13 Vua xứ mù 14 Vua xứ mù 15 Vua xứ mù 16

Vua xứ mù 9

In Uncategorized on Tháng Mười Hai 19, 2008 at 12:18 chiều

Trong lúc tôi đang suy ngẫm miên man về những điều xa lạ, thì đồng thời con người bên ngoài của tôi vẫn đang hoàn toàn thích nghi với thực tại, tôi vẫn lắng nghe như nuốt lấy từng lời đùa cợt nhạt nhẽo từ đức vua, ngài đang cao hứng và cảm thấy mình vô cùng anh minh sáng suốt, bao dung. Tôi vẫn kín đáo liếc nhìn hoàng hậu với nụ cười chế giễu thường trực trên khóe miệng, nơi đôi môi mỏng gặp nhau như tình cờ, uốn lượn, tạo thành một cái hõm nho nhỏ kỳ lạ, đầy cuốn hút.

– Ta vẫn hy vọng rằng ngươi sẽ không làm ta thất vọng – Nhà vua nói – Ta đã thất vọng quá nhiều rồi, khi thất vọng ta sẽ hơi thiếu đức khoan dung đấy. Nhưng ta rất quý nhà ngươi, chàng trai trẻ, cả cô gái trẻ kia nữa.

– Thần sẽ cố gắng không khiến hoàng thượng thất vọng.

– Những kẻ khác cũng luôn nói vậy, ta cũng rất yêu quý chúng, và chúng đều đã chết.

– Thần khác họ, hoàng thượng biết đấy. Vả lại, thần cũng không sợ chết.

– Vì sao?

– Vì thần là đạo sĩ mà. Và vì trước khi gặp hoàng thượng, cuộc sống ở thế giới đạo sĩ đối với hạ thần còn đáng sợ hơn cả cái chết.

– Ha ha ha, nực cười, sống với ngươi khó khăn vậy sao?

– Vâng, thưa hoàng thượng, thần vốn sinh ra từ một nơi rất khắc nghiệt, nơi đó rất xa chốn này, nơi đó nếu không đỗ trạng nguyên hoặc ít nhất du học Singapore về thì sẽ bị coi như đồ bỏ đi. Không biết ngoại ngữ coi như bị câm điếc, không có xe ô tô coi như què, không biết vi tính coi như mù. Nơi đó củi châu gạo quế, và nông dân không còn đất nông nghiệp, dân thành thị hầu hết mảnh đất cắm dùi không có, phải đè đầu cưỡi cổ nhau ở trong những cái gọi là khu chung cư. Hoàng thượng hãy hình dung trên diện tích bằng cái vọng lầu giữa hồ kia, chúng thần xây lên những ba mươi tầng lầu, chen chúc hàng trăm gia đình, số người ở thì lên đến hàng ngàn, vô cùng khổ sở, có khi cả năm trời không hề nhìn thấy một cái cây cọng cỏ nào, nói gì đến chim chóc hoa lá.

– Vậy sao? Vậy muôn dân lầm than vậy mà vua của các ngươi không làm gì ư?

– Chúng thần không có vua.

– Không có vua?

– Vâng, chúng thần chỉ có một triều đình, với những quan to to kiểu như tể tướng, vài quan to to ấy cùng lo, đâm ra cũng chẳng ai lo lắm.

– Ha ha ha! Không có vua thì loạn là đúng rồi, còn than vãn cái nỗi gì.

– Vâng thưa hoàng thượng, nhưng không hẳn như vậy, chính vì cuộc sống quá khắc nghiệt, nên chúng thần đã tu luyện được những khả năng đặc biệt, ví dụ như chịu đói rét khổ sở, nhẫn nhục, an phận, chấp nhận tủi buồn, và cũng đã đạt được những thành tựu to lớn, khiến cho chốn đó trở nên cực thịnh, với những phép màu kỳ vĩ chỉ thua mỗi Ngọc Hoàng Tiên Đế trên Thiên Giới mà thôi.

– Vậy sao ngươi ở đây?

– Đó là do sơ xuất từ một lời nguyền, một tai nạn trong lúc dùng phép, thưa hoàng thượng.

– Ngươi có muốn quay về xứ sở cũ không?

– Thưa hoàng thượng, ở đó còn có vợ con hạ thần.

– Ta hỏi có hay không?

– Có, thưa hoàng thượng, sau khi thần hoàn thành bổn phận với hoàng thượng.

– Ngươi đâu nợ gì ta?

– Dưới gầm trời này, mọi thứ đều thuộc về hoàng thượng, kể cả đó là đạo sĩ hay thánh thần đi nữa, thưa hoàng thượng.

– Được, nếu một ngày ngươi muốn ra đi, ta cũng không ngăn cản. Mà có ngăn cản cũng không được, đúng không?

– Không, không có chuyện đó, hạ thần sẽ luôn tuân theo ý chỉ của hoàng thượng.

– Tốt, ta sẽ đối đãi với các ngươi không đến nỗi nào, rồi ngươi xem. Ta có thể cho ngươi tất cả mọi thứ, thậm chí cả ngai vàng, cung điện, ái phi mỹ nữ… chỉ trừ duy nhất người đàn bà của ta thôi. Phải không hoàng hậu?

– Hạ thần không dám, thưa hoàng thượng – Tôi kêu lên.

– Ha ha ha! Dám hay không ngươi hãy xin phép hoàng hậu của ta ấy, nàng sẽ nói cho ngươi biết nên dám hay không nên dám làm chuyện gì, phải không hoàng hậu?

Hoàng hậu không nói gì, chỉ nhìn tôi mỉm cười đầy bí hiểm, như thể tôi là một con mồi đáng thương vậy. Nhà vua âu yếm vòng tay ôm qua eo lưng, khẽ hôn vào má hoàng hậu, cô ta vẫn nhìn tôi qua vai ông ta, đôi môi hé mở, và trong chốc lát tôi bỗng thấy như mình đang biến thành ông ta.

Ánh nắng cuối cùng đã tắt sau rặng cây trong vườn thượng uyển, nhưng đôi mắt hoàng hậu dường như vẫn ánh lên, phát sáng, phản chiếu những tia kỳ lạ đầy ham muốn. Và bầu không khí ẩm ướt báo hiệu màn đêm xuống, một đêm đầu mùa hạ, với những vì sao sớm nhợt nhạt đang le lói nơi xa lắc xa lơ trên kia.

Bữa tiệc được dọn trên vọng lâu giữa hồ. Trong lúc vua tôi đi dạo, các cung nữ đã chuẩn bị xong, họ dẫn cả hai hoàng tử đến dự tiệc, và thiếu chút nữa tôi ngã ngửa ra vì ngạc nhiên: Hai hoàng tử sinh đôi! Hơn thế nữa, hai cậu thiếu niên đó giống nhau như đúc, và tôi cũng nhìn thấy hai chiếc vòng vàng đánh dấu trên tay trái tay phải. Trùng hợp ư?

– Minh Thiên, Minh Thanh xin vấn an hoàng thượng! – Hai cậu bé đồng thanh chắp tay lễ phép.

– Miễn lễ! Các con mau chào đạo sĩ và cô nương kia!

– Minh Thiên, Minh Thanh kính chào đạo sĩ và cô nương!

– Xin chào hai hoàng tử!

– Để cho tiện, ta sẽ ban cho ngươi tên hiệu Minh Anh Đạo Sĩ – nhà vua quay sang tôi nói, hãy xứng đáng với sự sủng ái của ta, bởi đây là một ngoại lệ chưa từng có. Bất cứ kẻ nào lấy tên hiệu có chữ Minh đều bị trảm. Và ta cũng chưa từng đãi tiệc kẻ nào trong vườn thượng uyển.

– Tạ ơn hoàng thượng! – Tôi vội quỳ xuống.

– Miễn lễ!

– Thiếp cũng phải ghen tị với đạo sĩ trẻ này rồi đấy hoàng thượng ạ – Hoàng hậu nói, trong lúc đôi mắt lúng liếng của cô ta liếc xéo qua tôi.

– Ha ha ha! Nàng chớ lo! – nhà vua nói – Đã có cô nương kia lo chuyện đó. Thôi nào, ta đói bụng rồi đây, lâu lâu rồi ta mới đi dạo trong vườn như thế này.

Nhà vua ngồi vào bàn, các cung nữ chỉ chỗ cho tôi và Châu Long.

Các cung nữ rót rượu rất khéo, họ lướt nhẹ nhàng như những cơn gió nhẹ thơm mát từ sau lưng tôi, vờn qua má tôi, xiêm y tha thướt. Nhà vua ngồi đối diện với tôi qua chiếc bàn tròn, bên trái là hoàng hậu, kế đến là Châu Long, bên phải vua là hai hoàng tử. Thoạt trông nó không khác gì một bàn ăn sáu người ở một restaurant nào đó, nhưng có khác đấy, bởi chiếc bàn tròn này to như một cái đu quay vậy, nó có ba tầng xoay, trên đó bày la liệt sơn hào hải vị, được trình bày công phu, nh
ư thể để làm ra bữa tiệc này các đầu bếp của triều đình đã phải chuẩn bị cả ba tháng nay vậy. Tôi không nhận ra bất cứ một món ăn quen thuộc nào, trong số hàng trăm món dọn ra. Cơn đói trỗi lên quặn thắt dạ dày, mùi thức ăn vô cùng hấp dẫn, và mùi rượu thơm nức, khiến nước bọt tứa ra không sao ngăn nổi.

– Nào cạn ly nào!

– Tạ ơn hoàng thượng! – Chúng tôi đồng thanh đáp, kể cả hai hoàng tử, riêng hoàng hậu không đáp lại, chỉ mỉm cười đưa ly rượu phớt qua môi, rồi nâng lên kề môi nhà vua, cử chỉ này làm ông ta vô cùng khoái chí, cười ha hả.

Tôi như cảm thấy một dòng sinh khí chảy qua cuống họng, nó đúng là tiên tửu! Hương thơm dịu ngọt và ấm của nó như bốc hơi lên từng bán cầu, từng sợi tóc, đê mê, và tụ lại trên đỉnh đầu tôi lơ lửng. Có lẽ tôi đang tỏa sáng, hoặc ít ra ảo giác là như vậy, vô cùng khoan khoái. Các cung nữ gắp thức ăn cho tôi bằng những chiếc đũa bịt vàng, vào những chiếc bát cũng bịt vàng nốt. Giờ tôi mới để ý đến những thứ khác, những thứ đồ làm từ gốm hoặc từ gỗ, vô cùng tinh xảo, được khảm vàng, dát vàng hoặc bọc vàng toàn bộ. Một số thứ tôi nghĩ được làm bằng vàng ròng, như chiếc đĩa kia chẳng hạn, nó đựng một món gì đó trông giống như miếng nấm hương khổng lồ được cắt lát, ươn ướt, đang bốc khói nghi ngút. Khi nếm thử, nó như tan ra trong miệng, hương vị dìu dịu, thơm tho, và cảm nhận rõ đó là một thứ protein bổ béo nào đó, chỉ có điều không thể phân biệt nó là thịt thú rừng hay chim chóc, hoặc có thể nó được chế biến từ hải sản chăng? Tôi chưa từng ăn thứ gì như thế. Mỗi người trên mâm đều được hai cung nữ đứng hai bên phục vụ tận răng, mười hai cung nữ đó từng cử chỉ động tác đều hết mực duyên dáng và thành thục, không một sai sót dù nhỏ nhặt nhất. Tôi ước rằng nếu có ngày mai kia, sau khoảng hai ngàn năm nữa, tôi sẽ mở một nhà hàng sang trọng với những cô phục vụ giống như thế. Nhà hàng Long Đình mà tôi từng biết chỉ là một quán cháo lòng bình dân, nếu so với nơi này.

Đâu đó dưới lầu, nhã nhạc văng vẳng, những chiếc đèn lồng đung đưa trong làn gió nhẹ, mùi nến thơm và rượu thơm thoang thoảng. Phía bên kia hồ, trăng non đang nhú lên sau rặng cây xa xa, bắt đầu soi bóng nước lung linh huyền ảo. Cảnh vật quả thật như chốn bồng lai, hoặc là rượu tiên đã khiến tôi trở nên như vậy. Tôi bỗng thèm thuốc kinh khủng!

Trước khi vào diện kiến nhà vua và triều đình, lính cấm vệ đã lột truồng tôi ra dìm vào cái chum to bự, rồi hai cung nữ đến kỳ cọ tắm táp cho tôi, sạch đến từng cái lông sợi tóc. Tất nhiên các cung nữ đều khỏa thân hoàn toàn, nhưng tôi hơi căng thẳng, nên chẳng cảm thấy xao động gì, hoặc tôi đã bình thản suy nghĩ rằng đó chỉ là một thủ tục bắt buộc, để đảm bảo tôi không gây hại đến nhà vua. Tất cả trang phục của tôi phải bỏ lại ngoài đó, từ quần áo giày dép cho đến điện thoại, thuốc lá, bật lửa… giống như ở cửa an ninh khi ta chuẩn bị lên máy bay vậy, thay vì phải chui qua máy soi, họ nhúng tôi vào chum nước. Sau đó họ mặc cho tôi một bộ quần áo đơn giản, đúng ra nó chỉ là một mảnh vải sợi đay hoặc lanh được cắt một cái lỗ tròn chính giữa, tôi chui đầu qua đó, vải trùm kín tới quá đầu gối, họ buộc thêm cho một băng vải thay thắt lưng, rồi cho xỏ vào chân tôi một đôi giày vải. Có lẽ họ cũng làm y hệt như thế với Châu Long của tôi. Nhưng tất cả những phòng ngừa ấy cũng bằng thừa, vì bây giờ tôi chỉ thèm thuốc mà thôi.

Cuối cùng bữa tiệc no say cũng kết thúc. Tôi mới chỉ kịp nếm chừng hai chục món hảo hạng, một phần mười trong những thứ hảo hạng ấy. Hoàng hậu dẫn hai hoàng tử và Châu Long đến bên hồ nước thả đèn hoa đăng. Ánh đèn hắt lên khuôn mặt hai người đàn bà, đẹp kỳ ảo. Nhà vua đang có vẻ hưng phấn, ông ta nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế bọc nhung bên hiên lầu, ánh trăng soi sáng chiếc mũ gắn đầy vàng bạc, thi thoảng nó lại sáng loáng lên. Ông ta chỉ cho tôi chiếc ghế tương tự ở kế bên, thấp hơn một chút, cách ông ta một tấm mành trúc mỏng.

– Ta hy vọng ngươi cảm thấy thoải mái? – Nhà vua nhìn tôi dò hỏi qua tấm mành, tôi thấy đôi mắt ông ta ánh lên phản chiếu những chiếc đèn lồng rực rỡ gần đó.

– Tạ ơn hoàng thượng, thần rất thoải mái, rượu và thức ăn rất ngon ạ.

– Vậy sao ngươi có vẻ lơ đãng?

– Dạ không dám, thưa hoàng thượng, chỉ có điều…

– Cứ nói!

– Mỗi khi uống rượu ngon, cảm thấy thoải mái, hạ thần lại thèm thuốc ạ.

– Ha ha ha! Tưởng gì!

Hai cung nữ từ đâu xuất hiện, họ đặt lên bàn một thứ kỳ dị, tất nhiên cũng mạ vàng nốt. Tôi nhận ra nó chính là bàn đèn hút thuốc phiện, theo một mẫu thiết kế lạ lùng nhất tôi từng nhìn thấy.

Tôi không dám chối từ bổng lộc ấy của nhà vua. Mùi thơm ngậy xoắn xuýt khứu giác, hai cung nữ mồi thuốc phiện cho tôi, nâng chén trà nóng lên môi tôi, và sau đó dường như có một màn sương mờ che phủ đôi mắt tôi. Bấy giờ những cơn ảo giác mới thực sự xâm chiếm, khiến tôi mụ mẫm hoàn toàn, cơ thể như trôi nổi trên đỉnh một con sóng du dương êm ái nào đó. Hình như tôi đã mỉm cười, trước khi mọi thứ hoàn toàn tan biến, tôi tan biến, vào hư vô.

Khi tôi tỉnh dậy, không rõ là bao lâu sau. Lúc đó ánh trăng soi chếch bóng qua song cửa sổ, chính nó đã soi vào mắt và khiến tôi tỉnh giấc. Tôi mất một lúc để cố tìm hiểu điều gì đó, tôi chưa rõ mình đang ở đâu, rồi dần dần tôi bắt đầu nhớ lại mọi chuyện, vừa vui mừng vừa tiếc nuối, rằng có lẽ đó chỉ là một giấc mơ. Mặt trăng kia có lẽ chỉ là cái chao đèn compac 15W trong nhà vệ sinh phản chiếu qua tấm gương, chỉ cần tôi với tay qua bên phải là sẽ đụng vào hai đứa con gái sinh đôi đang ôm nhau ngủ, kế nữa là mẹ chúng, xộc xệch trong chiếc áo ngủ. Quờ tay sang bên trái, tôi sẽ vớ ngay được chiếc đèn ngủ cảm ứng, nó sẽ tự động bật lên, và giấc mơ ngọt ngào này sẽ kết thúc.

Trong chốc lát tôi không biết tay nào là tay trái.

Và tôi cũng không muốn biết nữa.

Những phần khác:

Vua xứ mù Vua xứ mù 2 Vua xứ mù 3 Vua xứ mù 4 Vua xứ mù 5 Vua xứ mù 6 Vua xứ mù 7 Vua xứ mù 8 Vua xứ mù 9 Vua xứ mù 10 Vua xứ mù 11 Vua xứ mù 12 Vua xứ mù 13 Vua xứ mù 14 Vua xứ mù 15 Vua xứ mù 16

Thời của “tiểu thuyết trẻ”?

In Uncategorized on Tháng Mười Hai 19, 2008 at 8:57 sáng

(TT&VH) – Chục năm trở về trước, việc một tác giả trẻ cho ra mắt một cuốn tiểu thuyết có thể được coi là một sự kiện đặc biệt, một “của hiếm” trong làng văn chương. Nhiều tác giả khi được hỏi đã bày tỏ nỗi e ngại khi thử sức với một thể loại “dài hơi”. Khi đó tiểu thuyết vẫn bị coi là một lãnh địa không thực sự dành cho những người trẻ. Còn bây giờ?

1. Còn nhớ cuộc thi Cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 2002 – 2004, theo báo cáo tổng kết của BTC, đã không hề xuất hiện một cây bút trẻ nào. Ba tác giả trẻ nhất của cuộc thi đều đã ngoài tuổi 40, đó là Nguyễn Xuân Hưng, Lê Ngọc Mai và Võ Thị Xuân Hà. Khi đó, nhà phê bình Bùi Việt Thắng cho rằng: “Điều này không có gì lạ và không đáng lo ngại vì trong lĩnh vực tiểu thuyết đòi hỏi độ chín hơn trong lĩnh vực thơ và truyện ngắn, vốn là nơi người viết dễ lóe sáng từ đầu”. Ông cũng đưa ra dự đoán: Trong lĩnh vực văn học, nếu cứ sau khoảng mười năm mới xuất hiện một tên tuổi, một tác phẩm đáng nhớ, đáng đọc cũng là lẽ bình thường. Những cao trào của tiểu thuyết trong văn học hiện đại VN (tính từ sau 1945, cũng là chu kỳ cả chục năm một). Sẽ xuất hiện một cao trào mới của tiểu thuyết là vào cuối thập kỷ đầu thế kỷ 21 (chẳng hạn vào những năm 2008-2012).

3 cuốn tiểu thuyết của nhà văn trẻ Đặng Thiều Quang

Dự đoán này có vẻ đã “linh ứng”. Bằng chứng là trong 1- 2 năm trở lại đây; đặc biệt là trong năm 2008 này, tiểu thuyết của các tác giả trẻ đã thôi là “của hiếm”, và bắt đầu gặt hái vụ mùa đầu tiên. Bên cạnh sự xuất hiện của những tên tuổi quen thuộc của những tác giả vốn đã quen thuộc với địa hạt truyện ngắn như: Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thuý, Nguyễn Thị Diệp Mai (chưa kể các tiểu thuyết in 2007, như Sự trở lại của vết xước của Trần Nhã Thụy tái bản nhiều lần trong năm 2008)… là sự xuất hiện một loạt các tác giả mới như Đặng Thiều Quang, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vũ Phương Nghi, Nguyễn Quỳnh Trang, Nguyễn Văn Học, Thuỷ Anna…

Nhận định phổ biến trước đây rằng “các nhà văn trẻ giờ xem chừng “ngại” viết tiểu thuyết” đã trở nên lỗi thời. Tiểu thuyết trở thành sự lựa chọn của nhiều tác giả. Tiểu thuyết thành đối tượng săn tìm và “chào hàng” của nhiều đơn vị kinh doanh xuất bản sách – điều này trái ngược với sự nhận định của một số người rằng xu hướng của độc giả hiện nay là tìm đọc những truyện ngắn, thật ngắn, tốc độ nhanh, nhiều thông tin.

2. Lý giải điều này, nhà văn Nguyễn Danh Lam phân tích: Sau một thời gian “vỡ vạc” bằng truyện ngắn, tiểu thuyết thường là đích để mọi người viết hướng tới. Tất nhiên phải ngoại trừ nhiều trường hợp chọn lựa truyện ngắn là sở trường, đạt được sự nghiệp ở mảng này. Các cây bút truyện ngắn ở lứa 30-35 gần đây bắt đầu chuyển dần qua tiểu thuyết… Vì có sẵn cái nền là truyện ngắn, họ bắt đầu với tiểu thuyết khá chững chạc. Con đường sáng tác còn dài ở phía trước, tôi nghĩ, ở tầm mức Việt Nam, chúng ta không có gì phải bi quan.

Thế nhưng chất lượng các cuốn tiểu thuyết lại là điều gây ra nhiều tranh cãi. Nhà văn Sương Nguyệt Minh phát biểu trong một bài phỏng vấn: Quả thật, tôi không mãn nguyện. Có thể mọi người thích, nhưng tôi chẳng những không thích tiểu thuyết trẻ mà không thích cả nền tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây. Tôi thích truyện ngắn hơn. Truyện ngắn trẻ hay hơn tiểu thuyết trẻ. Chỉ nói về hình thức, thì tiểu thuyết trẻ ít có sự đa dạng về bút pháp. Bạn đọc có thể tìm thấy bóng dáng huyền ảo ở Nguyễn Danh Lam, nhật ký hoá tiểu thuyết ở Nguyễn Thế Hoàng Linh… Còn hầu hết người viết tiểu thuyết trẻ vẫn trung thành với bút pháp hiện thực mà chủ yếu là kể và tả. Lối viết này không mới, nó xuất hiện ồ ạt ở Việt Nam những năm 30 của thế kỷ trước. Ngay lối viết “tả chân” thì cũng ít tác giả lấy sự dằn vặt, ngẫm ngợi về nỗi đau thân phận làm âm hưởng chung của tác phẩm như Trần Nhã Thụy với Sự trở lại của vết xước mà hầu hết là tả và kể xong một câu chuyện dài..
Vũ Anh

Vua xứ mù 8

In Uncategorized on Tháng Mười Hai 18, 2008 at 11:54 sáng

Nếu không, tại sao tôi lại ở đây? Giữa cái thế giới kỳ lạ này?

Tôi quay sang nhìn nhà vua và đám đông vây quanh ông ta, trong cảnh sắc huy hoàng khu vườn thượng uyển. Tôi hình dung có thể tất cả chuyện này sẽ biến mất vào sáng hôm sau, khi tôi tỉnh giấc trên giường, tôi nhìn sang chiếc đồng hồ báo thức và nhận ra nó đã bị hỏng, vợ tôi đang càu nhàu gì đó, chính nàng đã đánh thức tôi dậy, góc bên kia hai đứa con gái tôi đang khóc ré lên, chúng tè dầm và bị mẹ phát cho vào mông. Tôi sẽ vô cùng chán nản khi biết mình đã trễ giờ làm, chỉ còn ba mươi phút để đến cái văn phòng buồn tẻ đó, bỏ qua bữa sáng, và để rồi hứng chịu những lời cằn nhằn từ tay trưởng phòng thiết kế. Hắn ta là một gã gày gò trạc bốn mươi tuổi, vợ bỏ, bị bệnh đau dạ dày và mất ngủ kinh niên, luôn tìm ra đủ mọi lý do để sỉ nhục đồng nghiệp dưới quyền trước mặt những đồng nghiệp khác, bằng cái thứ giọng the thé của gã. Thật kỳ lạ, tôi bỗng thấy sự tồn tại của gã giờ đây là rất đáng ngờ, như thể đó chỉ là một cơn ác mộng ngắn ngủi, và hiện tại, bây giờ, mới là cuộc đời thực của tôi, cuộc sống của tôi, nơi tôi thuộc về là đây, thời mông muội huy hoàng và tươi đẹp này, chứ không phải thời văn minh hiện đại khốn khổ của chúng ta.

Nhưng nếu sáng mai tôi tỉnh dậy trên giường và nhìn thấy chiếc đồng hồ hỏng thì sao? Tôi sẽ nhanh chóng lãng quên giấc mơ này, thậm chí tôi sẽ quên trong một tích tắc khi ý nghĩ buồn chán về việc muộn giờ làm xâm chiếm trí óc, khiến tôi tê liệt hoàn toàn. Tôi sẽ láng máng nhớ rằng dường như đã có một điều gì đó xảy ra, rất mơ hồ, hơi thân quen, nhưng lại cũng hết sức mờ mịt. Nhưng cái gờn gợn đó chỉ thoáng qua rất nhanh, bởi ý nghĩ rằng ngày hôm nay lại có biết bao ưu phiền làm rối cả lòng ta; rút dao chém xuống nước, nước càng chảy mạnh, không cẩn thận lại còn chém cụt cả ngón chân mình như chơi. Như lời một bài hát phim truyền hình Bao Thanh Thiên ấy, xưa nay chỉ thấy người nay cười, có ai nghe thấy người xưa khóc đâu?

Vậy là rất có thể toàn bộ chuyện này sẽ hoàn toàn biến mất, bị quên lãng, ngay bởi chính tôi. Hoặc là toàn bộ cuộc sống của tôi ở năm 2009 kia cũng sẽ chỉ là một cơn hoang tưởng, một sản phẩm do trí tưởng tượng méo mó của tôi tạo ra. Hãy thử nói chuyện này với ông vua kia mà xem, ông ta sẽ cho rằng tôi là một đạo sĩ ăn tục nói phét, và ngay sau đó tôi sẽ bị lôi ra chém đầu. Hãy thử nói với Châu Long, cô gái ngây thơ luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự tồn tại thần thánh của tôi, cô ta sẽ không bao giờ hiểu nổi chuyện này, dù theo những cách thức thần thánh nhất. Còn hoàng hậu Thiên Vân kia, cô ta liệu có tin vào lời nào của tôi? Hay cô ta chỉ nhìn thấy tôi như một kẻ dại dột đáng thương, một kẻ dại gái?

Tôi chợt cảm thấy nhẹ cả người khi có ý nghĩ rằng mình là một kẻ dại gái. Vâng, thật buồn cười, nhưng giờ tôi mới nhận ra điều đó một cách rõ ràng đến thế. Tính tôi vốn cả nể, nhưng từ trước tới nay tôi vẫn không một phút nghi ngờ về việc mình dại gái, bởi tôi không thuộc tuýp đàn ông mà phụ nữ có thể lợi dụng. Đơn giản là vì tôi kiết xác. Đàn bà không quyến rũ một gã rỗng túi bao giờ, vì thế tôi an toàn. Tôi nhớ đến vợ tôi, và ngạc nhiên nhớ lại nàng đã khiến tôi cưới nàng như thế nào, đơn giản như đan rổ vậy. Bây giờ thì tôi thấy hiện ra rõ mồn một cái lúc tôi mới quen biết nàng, khi đó tôi tự do như chim, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì, tôi làm việc tự do, ngẫu hứng, thậm chí tôi có quyền lựa chọn khách hàng cho mình. Tôi luôn nói không với công sở, và hãnh diện được là một freelancer – Một người hành nghề tự do – Tự do như chim vậy. Và nàng là một con chim mái, nàng đã lựa chọn tôi để xây tổ ấm, tôi đã đồng ý và tự nguyện cặm cụi đi tha rác về đan thành một chiếc ổ xinh xắn, tôi đã nói rồi, rất đơn giản, như đan một cái rổ. Chim mẹ đẻ liền một lúc hai con chim con bé bỏng xinh xinh, thế là chim bố giã từ những chân trời tự do, buộc phải chấp nhận đi làm thuê, ngày ngày chịu đựng cái giọng the thé của gã trưởng phòng, đổi lấy là việc cuối ngày tha về tổ những miếng mồi xinh xinh cho đàn chim non.

Rất có thể bạn cho rằng tất cả những điều kể trên chẳng hề có chút gọi là dại dột hay dại gái gì cả. Vâng, đúng vậy, nếu chỉ xét qua bề ngoài. Nhưng tôi vừa nhận ra không phải vậy. Tôi vừa tự hỏi điều gì đã khiến tôi hy sinh thứ tự do quý giá của mình để lấy nàng, vợ tôi ấy, để rồi sinh con đẻ cái và sống mòn như một kẻ chết rồi như vậy? Tình yêu ư? Vâng, đúng rồi, tất nhiên rồi, người ta lấy nhau vì tình yêu mà. Nàng trông khá xinh, dễ coi, dáng người thanh tú, đấy là tôi nói trước khi nàng mang thai rồi sinh đôi hai đứa trẻ thôi. Tôi có yêu nàng không à? Có chứ. Tôi yêu nàng, đương nhiên, không yêu sao cưới, có hâm không mà hỏi vậy? Vậy có gì là sai ở đây?

Tôi không biết, thật đấy, ít ra là tôi đã không biết cho đến cách đây chưa lâu. Từ từ tôi sẽ chỉ ra cái chỗ sai lầm cơ bản, có tính bản lề, trong cuộc đời một gã đàn ông. Đó là khi ta đang yêu một cô gái, cô ấy cũng yêu ta, mọi chuyện diễn ra tốt đẹp, và rồi một ngày đẹp trời như mọi ngày, bạn tự hỏi tại sao không nhỉ? Cô ấy yêu mình, cô ấy sẽ là người vợ tốt, cô ấy yêu mình không vì cái gì cả, không lợi dụng mình, bởi vì mình có gì mà lợi dụng đâu. Đó, sai lầm chính là ở chỗ đó. Bạn nghe theo bản năng duy trì nòi giống. Bạn nhìn thấy mọi chuyện có vẻ hợp lẽ thường, có vẻ tốt đẹp, như thể nó là chân lý, quy luật… Nhưng bạn không thấy một điều rằng ở đây không có chỗ cho lý lẽ và những logic thông thường, ở đây là sự cẩu thả và tùy hứng không thể đoán định, cho sự việc xảy ra. Tình yêu có thể không vụ lợi về một mặt nào đó như tiền bạc, danh tiếng, sự đảm bảo một vị trí nhất định trong xã hội v v… nhưng hôn nhân và những khế ước xã hội, những trách nhiệm gia đình, là chuyện hoàn toàn khác hẳn. Hãy khoan nói về những chuyện khác, chỉ riêng trong tình yêu, đã là không thể không vụ lợi, về mặt thể xác thì đó là sự thỏa mãn cho cả hai. Về mặt tinh thần, đó là sự ve vuốt bản thân từ hai chiều, chống lại nỗi sợ hãi cô đơn. Những cảm xúc thì không bàn đến, dù cho nó mãnh liệt hay êm ái, nó cũng sẽ thay đổi và không bao giờ là bất biến. Chúng ta không nên h
nh dung ngày nào cũng nhìn vợ ta như nhìn nàng lần đầu, hay như lần đầu nhìn nàng bẽn lẽn cởi quần áo trước mặt ta, cái đụng chạm đầu tiên, ánh mắt đầu tiên… Ta cũng không thể sống cả đời với những tình cảm nồng nàn âu yếm, bởi đó là một tai họa thì đúng hơn, nếu tất cả những hình dung đó biến thành hiện thực.

Trên thực tế, tất cả chúng ta duy trì trật tự thế giới này, nhờ nỗi sợ hãi thường trực. Nỗi sợ hãi cái chết, cái đói khát, sự hỗn loạn, và cuối cùng là sự cô đơn. Nỗi sợ hãi là keo 502, đã gắn chúng ta lại. Rất nhiều điều đã được quyết định vội vã bởi nỗi sợ hãi, và sai lầm là không thể tránh khỏi. Tôi sợ đánh mất cuộc đời mình nên đã chọn cuộc sống tự do. Tôi sợ đàn bà lợi dụng mình nên không dính vào họ. Tôi yêu một cô gái vì thấy ở đó sự tự nguyện không vụ lợi, vì nó không có gì sai, tôi lấy cô ấy vì cũng thấy điều đó không có gì sai, vì tôi cũng muốn như thế. Và nó bắt đầu là ở chỗ sai sai đúng đúng ấy. Trên thực tế tôi tự đẩy mình vào hoàn cảnh phải sống có trách nhiệm với gia đình vợ con mình, mà chưa có sự chuẩn bị nào. Không một ai ngăn cản tôi, thậm chí có vẻ cả thế giới này đều ủng hộ tôi.

Một người phụ nữ đáp lại tình yêu của bạn, sau đó chấp nhận lấy bạn trong khi bạn kiết xác, không có nghĩa là bạn không dại dột và phạm sai lầm, không có nghĩa là bạn có gì đó hay ho. Đơn giản là tất cả đều sai lầm, và đều xuất phát từ nỗi sợ hãi thường trực. Dường như người ta nhắm mắt đưa chân đi theo những con đường mòn của nhân loại, như thể đó chính là lối thoát, là giải pháp cho sự hoang mang lạc lõng. Để rồi khi vật lộn trên con đường đó, họ mới nhận ra sự thật, trớ trêu thay, bạn đồng hành rất ít khi chung đường, thường thì chỉ gặp nhau ở những trạm nghỉ chân, khi mỏi mệt, khi nỗi sợ hãi lên cao, buộc phải dựa lưng vào nhau. Còn thì thường xuyên đồng sàng dị mộng, họ lang thang trong thế giới tâm tưởng riêng nào đó xa lắc, như tôi đang ở đây, vợ con tôi đang ở một thế giới khác, trong một thời đại khác, hoàn toàn xa lạ với những hiện thực này mà tôi đang đối diện, chỉ một mình tôi, không một ai có thể trông cậy, không một ai có thể giúp tôi, bởi họ đang ở những thế giới khác của riêng họ, và chỉ họ biết chính xác nó như thế nào. Hai ngàn năm nữa, đó là năm 2009, tôi sẽ ở một khúc quanh khác của hành trình kỳ lạ này, nơi mà tôi sẽ gặp gỡ những con người mỏi mệt, gắn bó với nhau bởi nỗi sợ hãi, chúng tôi đồng ý với nhau về hầu hết mọi thứ, chúng tôi tán gẫu trong lúc chờ người xà ích thay ngựa, và rồi sau đó lại mất hút vào bóng tối vĩnh hằng hoặc những lo âu đời thường của một con người sống trong thời điểm năm 2009 đó. Họ không biết một khu vườn thượng uyển thực sự trông sẽ như thế nào, ngoài những gì được thấy trên phim ảnh. Họ không quan tâm đến việc phải làm sao để đốn một cây gỗ lim từ rừng về dựng nhà cửa, thành quách, cung điện. Họ không quan tâm đến việc làm thế nào để có thể sống sót giữa một đám gian thần, một vị bạo chúa thất thường, một bà hoàng hậu nguy hiểm và đẹp một cách ma quái. Điều cuối cùng, đó là sẽ phải làm gì tiếp theo, làm cho đúng, nếu ta đã trót ở một nơi như thế này?

Tôi hình dung đến cảnh gia đình, vợ con tôi, dù hình dung ở đâu đó họ tồn tại, lúc này hay hai ngàn năm sau, nó đều lạ lùng. Những cảnh đời thường ấy bỗng dưng trở nên xa vời. Tôi đi làm về, mệt nhoài, nằm ở đi văng xem ti vi. Hai đứa con gái tôi leo lên bụng, chúng mè nheo bắt tôi phải giả làm trò chơi thú nhún như ngoài công viên. Một đứa cố lấy ngón tay chọc vào mắt tôi, rồi bỗng dưng nó ghé sát mặt vào, sau đó tìm cách cắn mũi tôi. Đôi môi nó mềm mại, ướt át, với hơi thở thơm tho mùi sữa. Đôi mắt nó mở to, chăm chú nhìn tôi tò mò, nó lấy ngón tay sờ vào mũi tôi, sờ vào môi, cằm, râu… Rồi nó cười hì hì khoái chí. Tôi không rõ nó là con em hay con chị nữa, lúc đó tôi mải xem ti vi, một bộ phim sử thi hoành tráng, hình như trận Xích Bích hay gì đó.

Tôi đã không biết nó là con em hay con chị, bởi chúng giống nhau y hệt. Ngay cả mẹ chúng cũng hay nhầm lẫn. Ngay từ khi vừa mới sinh ra, chúng tôi đã đeo cho mỗi đứa một chiếc vòng bạc có khóa đặc biệt, con chị đeo ở tay trái, con em đeo ở tay phải. Khi chiếc vòng chật so với cổ tay, tôi lập tức đặt thợ kim hoàn làm đôi vòng mới hầu như vừa vặn, để chúng không thể tự cởi ra và đổi sang tay kia. Đôi khi tôi tư cười mình vì cái sự đánh dấu ấy, tự nhủ có khác gì nhau việc sinh ra sớm hay muộn vài phút? Chúng giống nhau một cách hoàn hảo, ngay cả vân tay cũng giống nhau. Một hôm, khi chúng ngủ say, tôi đã lấy kính lúp soi cố tìm sự khác nhau trên từng nét nhỏ nhặt trên khuôn mặt chúng, trên ngón tay, vân tay, mà người ta vẫn cho rằng không thể giống nhau. Nhưng sự thực thì chúng giống nhau một cách hoàn hảo, từ vân tay cho đến từng chiếc lông mi, và thậm chí đến từng sợi tóc, từng sợi lông tơ trên vầng trán trẻ thơ đang ngủ say thanh bình kia.

Tôi say mê sự hoàn hảo, tôi rất thích thú nhận ra rằng mỗi con người, mỗi cá nhân, và bản ngã không phải là duy nhất, không phải là bất biến. Nỗi cô đơn sâu thẳm, đúng hơn là nỗi sợ hãi cô đơn, xuất phát từ việc người ta không lý giải được cái bản ngã của mình, vì nó duy nhất, và nó không có lý do gì đủ xác đáng để được sinh ra thế này mà không phải là thế khác, điều đó nghe ra có vẻ khó lọt tai, và làm người ta kinh sợ. Bậy nào, chúng ta được sinh ra với cái bản ngã riêng biệt, duy nhất, tuyệt đẹp, phải trân trọng nâng niu nó, vì nó là một lần duy nhất, tuyệt đẹp, riêng biệt, không giống ai, vì nó phải có lý do sâu thẳm nào đó chứ, không thể chỉ là một hệ quả của sự sơ ý và xao lãng nào đó, một sự tình cờ… cái lý lẽ luẩn quẩn này không bao giờ kết thúc. Người ta luôn tìm ra lý do cho sự tồn tại của mình.

Nhưng từ khi phát hiện ra sự giống nhau hoàn hảo của hai đứa con sinh đôi của mình, tôi đã biết là không phải như thế, rằng bản ngã con người và số phận, là những thứ duy nhất, nó hoàn toàn có thể rất khác với tất cả những gì chúng ta cảm nhận được, những thứ chúng ta nhìn thấy, cầm nắm sờ mó đụng chạm ngửi hít và nghe được, thậm chí rất khác với những thứ chúng ta có thể hình dung ra được. Tôi quan sát phản ứng của hai đứa trẻ, ngắm chúng, nghe giọng nói của chúng, đôi khi cắn vào má chúng, và cố tìm sự riêng biệt đ
ược bộc lộ, từ khi chúng còn hoàn toàn chưa có một ý niệm gì. Tôi cố hình dung chúng là một đứa bé, chỉ khác là chúng cùng lúc tồn tại ở cả hai thời điểm khác nhau, cách nhau đúng vài phút, giống như ta xem hai chiếc màn hình cùng chiếu một bộ phim, một trong hai chiếc chiếu trễ vài giây đồng hồ.

Các bác sĩ nói rằng họ không bấm giờ, nhưng hai đứa trẻ của tôi chui ra khỏi cơ thể mẹ nó rất nhanh, như thể chúng tranh nhau hoặc nhường nhau ra trước vậy. Biết đâu con chị nhường con em thì sao nào?

Tuy nhiên, dần dần chúng tôi biết cách phân biệt chúng, chính nhờ vào cái lối suy nghĩ là chúng giống hệt nhau cả về hình thức lẫn tâm hồn, chúng là một, duy chỉ cùng lúc sống ở hai thời điểm. Tôi tập cho vợ tôi suy nghĩ theo chiều hướng này, và nàng cũng đành phải đồng ý với tôi, đâu có cách nào khác. Người ta vẫn nói chỉ người mẹ mới có thể phân biệt những đứa con sinh đôi giống y hệt nhau, nhưng với trường hợp này thì sai bét, nàng không thể phân biệt được nếu không nhìn vào hai chiếc vòng. Tôi cho nàng thấy sự giống nhau và lặp lại y hệt khi một đứa khóc, đứa kia khóc theo ngay sau đó. Khi một đứa nhảy lên bá cổ tôi, đứa kia cũng sẽ làm như thế. Có lúc con chị làm trước, con em làm sau, cũng có khi ngược lại, nhưng chúng hoán đổi vị trí cho nhau như thế để đánh lừa chúng tôi mà thôi, như ngầm cho tôi biết đâu có gì khác nhau, và chẳng có gì mang tính quy luật ở đây cả, chúng rất tinh quái, chúng có thể đánh lừa cả thế giới bằng cái vẻ đẹp ngây thơ vô tội của chúng, nét trẻ trẻ thơ, sự hoàn hoàn hảo, và nhất là cái sự giống nhau như hai giọt nước ấy nữa.

Tôi bỗng nhớ chúng vô cùng, nhớ cả mẹ chúng nữa, biết đâu giờ này nàng cũng đang nhớ đến tôi? Chúng ta sống với nhau cả đời, tưởng là dài lâu lắm, nhưng như đã nói, kỳ thực chúng ta chỉ gặp nhau thực sự vào giây lát ngắn ngủi lúc nghỉ chân bên đường, bữa cơm tối chẳng hạn, diễn ra trong im lặng, sau một ngày dài vất vả mệt mỏi. Ngay trong những giây lát ngắn ngủi ấy, tâm trí chúng ta vẫn còn ở tận đẩu tận đâu, thậm chí ngay trong những lúc ân ái mặn nồng tìm cách hòa làm một, hoặc ta phân thân, nhập vai, để cố tìm hiểu về cái thực thể đang tồn tại kia, đang nghĩ gì, muốn gì, cái ham muốn đó như thế nào, cảm xúc ra làm sao, để cùng dìu nhau tìm đến khoái lạc. Nhưng cộng tất cả những khoảnh khắc đó lại, trong suốt cuộc đời, có lẽ ta sẽ ngạc nhiên thấy nó chẳng đáng là bao, so với sự cô độc vĩnh cửu, tuyệt đối, mà chúng ta mang theo suốt hành trình.

Bấm vào các link dưới đây để đọc các phần còn lại:

Vua xứ mù Vua xứ mù 2 Vua xứ mù 3 Vua xứ mù 4 Vua xứ mù 5 Vua xứ mù 6 Vua xứ mù 7 Vua xứ mù 8 Vua xứ mù 9 Vua xứ mù 10 Vua xứ mù 11 Vua xứ mù 12 Vua xứ mù 13 Vua xứ mù 14 Vua xứ mù 15 Vua xứ mù 16

Vua xứ mù 7

In Uncategorized on Tháng Mười Hai 17, 2008 at 2:42 chiều

– Đấy, ngươi thấy đấy! – Ông ta nhún vai nhìn tôi, hai tay giơ lên trời tỏ vẻ bất lực – Ta phải chịu đựng lũ nịnh thần này bấy lâu nay, hết năm này qua năm khác, thử hỏi làm sao không rồ người lên chứ. Đám quan võ thì khá hơn một chút, không lắm lời, chỉ đâu đánh đấy. Đúng là một lũ ngu trung! Còn bọn quan tham, năm nào ta cũng xử trảm cả lố, chúng vẫn không chừa thói lộng hành và dốt nát. Nào, xem ta có thể dùng ngươi được hay không? Ngươi có thể làm cho ta được những gì?

Ta sẽ làm gì ư? – Tôi nghĩ thầm – Ta sẽ làm cho những tay viết sử phải vất vả, có vậy thôi. Tuy nhiên, sau một hồi suy nghĩ, tôi chắp hai tay cung kính:

– Muôn tâu hoàng thượng, theo ngu ý của hạ thần, vấn đề đầu tiên cần quan tâm là cải cách giáo dục, phát triển khoa học công nghệ. Tiếp đến là phát triển kinh tế, xây dựng hạ tầng. Thứ ba là xây dựng quân đội chính quy và hiện đại để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. Thứ tư là khi đất nước đã đủ mạnh ta tiếp tục khẩn hoang, chinh phục hải đảo và các vùng đất mới, mở rộng bờ cõi, khuyến khích nhập cư, xây dựng đế chế An Nam ngày một hùng mạnh, gây ảnh hưởng trong khu vực cũng như trên trường quốc tế…

– Nói thì dễ, ngươi có kế sách gì hay thì nói luôn đi kẻo ta lại xử trảm bây giờ – Ông ta ngắt lời tôi – Ngươi nên biết khối kẻ ăn tục nói phét kiểu chúng ta cần phải thế này chúng ta cần phải thế nọ như ngươi đã không còn chỗ để đội mũ rồi đấy, hãy cẩn thận!

– Muôn tâu bệ hạ muôn vàn anh minh sáng suốt, thần không dám! Thần xin dâng bản đề án kế hoạch hành động sau mười ngày nữa, sẽ rất đầy đủ và chi tiết. Khi đó tùy bệ hạ quyết định, dẫu muôn chết thần cũng cam lòng, không hé răng than van nửa lời.

– Được lắm! Có chí khí! Ha ha ha! – Ông ta đứng vụt dậy cười ha hả – Quan ngự sử đâu, ghi vào biên bản cuộc họp, mười ngày!

– Tâu bệ hạ, thần tuân chỉ! – Một ông già gầy gò râu tóc bạc phơ tiến lên chắp tay cung kính, ông ta liếc nhìn tôi nhếch mép thương hại.

– Bãi triều! – Ông vua phẩy tay uể oải.

– Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế! – Triều đình ê a xướng lên điệp khúc cũ.

– Thôi được rồi, biến nhanh cho khuất mắt ta! – Ông ta xua xua tay.

Tôi và Châu Long cúi đầu chắp tay cung kính lùi lùi ra phía cửa toan dợm bước theo bá quan văn võ ra về.

– Hai ngươi ở lại! – Ông ta bỗng lên tiếng – Ta muốn đãi hai ngươi bữa tiệc nhỏ.

– Đội ơn hoàng thượng! – Chúng tôi cùng đồng thanh.

Mặc dù lúc đó đang cúi gằm, chúng tôi vẫn cảm thấy những ánh mắt kín đáo hình viên đạn của toàn thể bá quan văn võ triều đình đang dành cho chúng tôi, chắc họ phải ghen tức lắm. Cũng phải thôi, đức vua của họ tỏ ra khinh bỉ họ không để đâu cho hết, ông ta không bỏ qua bất cứ một cơ hội nào để có thể chế diễu sự bất tài, ngu dốt và hèn hạ của họ. Ông ta lên kiệu, đám lính khênh kiệu đi trước. Sau đó một đám lính cấm vệ cầm giáo tiến đến phía chúng tôi, viên đội trưởng đeo một thanh kiếm dài ra hiệu đi theo anh ta. Chúng tôi lặng lẽ đi xuyên qua một hành lang dài lợp mái, băng qua những khu vườn xanh tươi xen kẽ những hồ nước nhỏ hình bán nguyệt trong vắt, từng đàn cá chép vàng bơi lội tung tăng, khắp nơi trong vườn cây đều ríu rít tiếng chim. Thấp thoáng đâu đó các bầy tì nữ lướt qua, xiêm y tha thướt, họ luôn cúi mặt nên mặc dù rất tò mò, chúng tôi không thể biết dung nhan họ ra sao. Châu Long có vẻ rất xúc động và căng thẳng, nét mặt nàng hơi tái đi, trông lại càng đáng yêu vô cùng. Tôi thì thầm trầm trồ về cảnh đẹp cấm cung để nàng bớt căng thẳng, nhưng tay đội trưởng quay lại ra dấu im lặng, tay phải anh ta luôn để ở đốc kiếm, khiến tôi im bặt, và rốt cuộc không khí càng thêm căng thẳng. Đám lính cấm vệ quân lầm lì vô cảm, họ có mặt khắp nơi, mỗi cổng có ít nhất hai lính cầm giáo đứng hai bên, nhìn về phía trước, hai cây giáo bắc chéo qua cổng, tính cả hai mặt tổng cộng là bốn người lính. Mỗi khi đến gần, tay đội trưởng áp tải chúng tôi lại giơ lệnh bài ra hô lên khẩu lệnh, lúc đó đám lính gác cổng cả phía trước và phía sau mới thu cây giáo lại cho chúng tôi đi qua, ngay khi người cuối cùng chui qua cổng, những cây giáo lại bắt chéo qua như cũ. Trang phục của lính khá đơn giản, nón lá có chóp là túm lông gì đó màu đỏ, quần áo chẽn vải sợi, giày đan từ sợi cói hay sợi mây gì đó. Giữa ngực áo có miếng giáp hình như cũng đan bằng sợi mây. Đám cung thủ đứng canh thành hàng ngang, sát bên dãy cột nhà, hầu như mỗi chiếc cột đều có ít nhất một cung thủ. Tôi đoán chiến thuật của họ là để đối phó với những thích khách cung thủ khác, họ lợi dụng cột nhà làm chỗ nấp để chống trả bất cứ sự xâm nhập nào. Trang phục của cung thủ gần như lính canh cổng, chỉ khác là túm lông trên chóp nón của họ có màu xanh, ngoài ra họ cũng đeo một thanh kiếm ngắn bên hông, đựng trong bao da. Tay trái họ cầm cây cung, tay phải đặt trên đốc kiếm. Ống tên đeo sau lưng, mỗi ống chừng chục mũi tên. Lính gác trong nhà thì đội mũ vải hay khăn xếp, đeo kiếm dài, tấm giáp hộ thân làm bằng da, khắp trang phục đều có những miếng giáp bằng da được khâu kết hợp vào, nhưng dường như nó vẫn đảm bảo sự mềm mại cần thiết. Họ đi giày vải mũi cong, đế có lẽ cũng may bằng da, trông khá đẹp mắt.

Chúng tôi đi qua một chiếc cổng tròn lớn họa tiết cầu kỳ, rồi đến một khu vườn rất rộng với một chiếc hồ lớn hình tròn, có chiếc cầu nhỏ dẫn ra lầu bát giác hai tầng giữa hồ. Nhà vua đang ngự ở đó tự bao giờ, trên tầng hai, xung quanh là các tì thiếp và bung xung, có lẽ là đám hoạn quan.

Đám lính cấm vệ dừng lại ở bên ngoài cổng, một tốp tì nữ đón hai chúng tôi, dẫn đến gặp nhà vua. Bấy giờ tôi mới nhìn thấy dung nhan tì nữ, họ thua xa Châu Long của tôi, tuy nhiên trang phục và trang điểm khiến họ trông rất dễ coi, họ mỉm cười e lệ khi thấy chúng tôi nhìn đầy vẻ tò mò.

– Nào, lên đây nào! – Nhà vua cất giọng oang oang, phá vỡ không khí tĩnh lặng – Các ngươi hãy thoải mái đi! Ở đây không cần phải giữ lễ, chỉ có ta và các ngươi, đám tì nữ này cũng coi như đám vịt giời kia thôi.

– Tạ ơn hoàng thượng! – Chúng tôi lại đồng thanh. Theo tay ông ta chỉ, chúng tôi nhìn thấy một bầy thiên nga lẫn ngỗng hay uyên ương gì đấy đang bơi lội tung tăng dưới hồ nước trong xanh, ông ta
gọi đó là vịt giời. Chúng tôi leo lên tầng hai lầu bát giác.

– Ngồi đi! – Ông ta khoát tay.

– Tạ ơn hoàng thượng!

– Thôi nào! Tạ tạ cái đéo gì, tạ nữa ta kêu lính chém đầu bây giờ! – Ông ta kêu lên.

– Vâng, vâng ạ! – Tôi đáp – Không tạ nữa ạ.

– Đấy, thế có phải đơn giản không? Còn cô gái kia, ngẩng mặt lên ta xem nào! Nhìn ta đây này!

Ông ta bước xuống lấy chiếc quạt lông công nâng cằm Châu Long lên. Trong chốc lát, khi Châu Long ngước đôi mắt tuyệt trần của nàng lên nhìn vua, dường như ông ta thoáng bối rối, cả nàng cũng vậy.

– Ồ, nàng thật là đẹp! Lẽ ra nàng phải là ái phi của ta từ lâu rồi mới phải – Vua mỉm cười nói, như thể đó là một câu đùa, đoạn quay sang tôi – Ngươi cho ta mượn nàng đêm nay nhé?

– Thưa hoàng thượng, hạ thần đâu dám! – Tôi đáp liền – Dưới gầm trời này mọi thứ đều thuộc về hoàng thượng.

– Được lắm! Ta thử ngươi đó thôi, đàn bà ta thiếu gì, đêm nay ta sẽ ban cho ngươi mười ái phi mà ta cưng nhất, vậy đã đủ chưa?

– Dạ, thần không dám ạ!

– Ngươi dám không dám à? Định kháng chỉ à?

– Dạ không dám, thưa hoàng thượng, vấn đề là mười cô thì thần không đủ sức khỏe ạ.

– Ha ha ha! Ta sẽ sai mang cho ngươi tiên tửu, có hai mươi tì nữ xúm vào vật ngươi cũng vẫn dư sức. Hay là ngươi định bẩm với ta rằng ngươi chỉ chung tình với cô gái kia? Mà ta quên mất, nàng tên gì nhỉ?

– Dạ, tiện nữ tên Châu Long, thưa hoàng thượng.

– Tên đẹp lắm! Đẹp như người vậy!

– Đội ơn…

– Đội đội cái gì, miễn lễ!

– Vâng, cám ơn hoàng thượng quá khen!

– Khá lắm! Ta thích gái mạnh dạn một chút, e thẹn một chút, chứ cái đám cung phi mỹ nữ hậu cung toàn chằng cái cả lượt, nhất là hoàng hậu của các ngươi, thật là quá quắt, chúng thông đồng câu kết chống lại ta, vắt cạn sinh lực ta. Đôi khi, ta ước được biến thành chim, hoặc là mây, bay khỏi chốn trần gian này.

Nhà vua thở hắt ra nhìn xa xăm về phía chân trời. Đám thị nữ cụp mắt xuống, tôi và Châu Long cũng chẳng biết nói gì. Ông ta có vẻ dễ xúc động, thất thường, và khó đoán trước. Tốt hơn hết là nên im lặng.

Bỗng đâu từ cuối khu vườn vọng lại tiếng huyên náo cười đùa, rồi một bầy thị nữ xiêm y rực rỡ xuất hiện từ sau lùm cây.

– Chưa thành ma mà đã thiêng như vậy! – Nhà vua giễu cợt đầy chua cay – Hoàng hậu của các ngươi đó, nhìn mà xem, một lũ hồ ly tinh!

Chúng tôi dõi mắt theo, và nhanh chóng nhận ra đâu là hoàng hậu, bà ta ở giữa đám đông, đương nhiên, trang hoàng lộng lẫy quá mức cần thiết, hầu như toàn bộ trang phục đều có ánh vàng, từ đầu tới chân. Bà ta đang tiến thẳng về phía hồ nước.

Nhà vua phẩy tay, đám thị nữ tự động rút lui, nhường chỗ cho đám kia. Tuy nhiên, chỉ hoàng hậu và hai thị nữ của bà ta lên gác, số còn lại đứng chờ bên dưới. Tôi và Châu Long lập tức đứng lên:

– Kính chào hoàng hậu! – Chúng tôi cúi đầu và chắp tay, theo đúng nghi lễ triều đình.

– Miễn lễ!

– Tạ ơn hoàng hậu!

– Hãy tạ ơn hoàng thượng của các ngươi ấy! Nghe nói hoàng thượng yêu mến các ngươi đến nỗi quên cả ta rồi, đúng không hoàng thượng?

– Bậy nào, ta đang bàn đại sự với đôi bạn trẻ này, họ rất khác người thường đấy nhé.

– Vậy sao?

Bà ta đi vòng quanh hai chúng tôi quan sát, có thể cảm nhận từ bà ta một mùi hương thơm đặc biệt lan tỏa, xâm chiếm không gian, khiến cho như thể trong chốc lát đầu óc tôi mụ mị. Có thể là xạ hương, hoặc những loại hương quý hiếm nào khác nữa, hoặc từ chính cơ thể bà ta. Mặc dù chưa ngẩng mặt lên nhìn, nhưng qua giọng nói, dường như tôi đã cảm thấy người đàn bà đó, có vẻ không còn trẻ trung, và cái câu hồ ly tinh ông vua dành cho bà ta là vô cùng chính xác, nó ma quái, đầy nhục cảm, vừa lẳng lơ quyến rũ lại vừa ẩn chứa những mối nguy hiểm.

– À, trông cũng dễ coi đấy nhỉ! – Bà ta lại dùng một chiếc quạt lông ngỗng trắng nâng cằm Châu Long lên xem mặt, khiến đầu gối nàng run rẩy, vì đang cúi đầu nên tôi đoán có lẽ sắc mặt nàng hẳn đang tái đi. Nhưng lạ một điều, khi ửng hồng hay khi tái đi, trông nàng vẫn luôn đẹp, mỗi trạng thái lại có một vẻ đẹp riêng khó diễn đạt. Hẳn là ai cũng đều nhận ra điều đó, và sắc đẹp luôn khiến đàn bà ganh ghét lẫn nhau, trong trường hợp này nhan sắc của Châu Long có thể gây ra ác cảm từ hoàng hậu. Điều đó là không hay ho chút nào. Bà ta tiến đến trước mặt tôi.

– Nào, đạo sĩ trẻ khác thường, ngươi ngẩng mặt lên ta xem khác như thế nào!

Tôi từ từ ngẩng mặt lên, ngước mắt nhìn bà ta, vô cùng sửng sốt. Bà ta còn quá trẻ, so với cái giọng nói kia, trong khi đôi mắt to thì lại đầy vẻ khôn ngoan từng trải. Nhưng lạy trời, cô ta, đúng, phải gọi là cô ta mới đúng, cô ta quá đẹp! Một thứ nhan sắc lạ thường, dường như khuôn mặt cô ta thiếu cân đối hài hòa, nhưng chính vì thế nó lại tạo ra một sức hút mê hồn, rất khó tả. Thân hình cô ta vô cùng kiều diễm, với xiêm y lộng lẫy và cố ý trễ nải đầy khêu gợi. Tôi đã nghe giọng nói và đoán đúng một phần, về vẻ đầy nhục cảm toát ra từ cô ta, từ ánh mắt lẳng lơ không dấu giếm của một người đàn bà từng trải, ánh mắt cô ta có những tia sáng kỳ lạ phát ra từ đôi đồng tử màu đồng thau, như mắt mèo, không ra vàng mà cũng không hẳn là nâu, nó lấp lánh và ướt át, giễu cợt. Tôi nghĩ bụng hẳn nhà vua đã lây cái tính ưa giễu cợt từ chính người đàn bà này, nó luôn khiến những người khác quanh họ trở nên lố bịch, vụng về, mất kiểm soát, biến thành lũ ngốc, thành trò cười, và theo cách đó họ làm chủ cuộc chơi. Như tôi lúc đó, hai đầu gối như run rẩy, tim loạn nhịp. Ngay lúc quỳ gối ở trước ngai vàng tôi cũng không như vậy, lúc đó tôi có hồi hộp, lo lắng, thoáng chút sợ hãi, nhưng tràn đầy tự tin. Còn người đàn bà này, cô ta khiến trái tim tôi thắt lại, bởi một điều gì đó kinh khủng đã xâm chiếm toàn bộ thể xác và tâm hồn tôi, nó đáng sợ hơn cả cái chết, hơn cả đau đớn, bởi vì đôi mắt cô ta như xuyên thấu tâm can tôi, ra lệnh cho tôi, mà không sao cưỡng lại được. Tôi có thể dùng những cách khéo léo để tác động tới ông vua kia, nhưng ngay khi bắt gặp đôi mắt cô ta, tôi biết là tôi sẽ không cưỡng nổi mệnh lệnh từ người đàn bà này, chính cô ta mới là người thống trị tất cả, bằng nhan sắc và quyền lực ma quái nào không rõ nữa…

Tất cả những điều đó diễn ra tr
ong vài giây tích tắc, giống như một tia chớp, một tia sét, nó lan tỏa và làm vỡ vụn bầu trời, rồi sau đó trả mọi thứ về nguyên vẹn như ban đầu. Trong chốc lát ấy dường như chỉ có tôi và cô ta tồn tại, giữa tôi và cô ta có một thỏa ước, cô ta biết tôi là ai, từ đâu tới, sứ mệnh của tôi, cũng như tôi đã biết tất cả những bí mật của cô ta, biết rõ những gì đã xảy ra, trong khi nhà vua và tất cả những kẻ khác thì không hề biết, họ ở một thế giới khác, kể cả Châu Long cũng vậy, tất cả bọn họ không đủ nhạy cảm và quyền năng để biết những điều mà tôi và cô ta biết, cũng như mùi hương thơm từ cô ta, tôi đoán chắc rằng chỉ mình tôi cảm nhận được, tôi đã biết rõ về người đàn bà này ngay từ khi mùi hương đó xâm chiếm toàn bộ khứu giác tôi. Điều đó thật kỳ lạ, và cũng thật quyến rũ!

Cô ta chính là hoàng hậu Thiên Hương, tôi đã nghe nhiều điều về cô ta, trước khi vào triều diện kiến nhà vua, nhưng không nghĩ là sẽ gặp mặt như thế. Sau đó mọi chuyện diễn ra sao đó, tôi không rõ lắm. Tôi đối đáp như một cái máy, rồi cuối cùng ông vua Minh Hoàng bá vai tôi kéo đi dạo quanh vườn thượng uyển. Châu Long đi sau hoàng hậu, cả đoàn tùy tùng kéo theo sau đuôi. Mặc dù đối đáp với nhà vua, tâm trí tôi vẫn lơ lửng ở đâu đó, hai tai nóng bừng, và như thể có một luồng điện từ chiếu vào sau gáy, khiến tôi phát sốt phát rét, thi thoảng tóc gáy lại dựng đứng lên.

Lúc đó là đầu mùa hạ, trời về chiều ráng đỏ rực rỡ hắt tới từ phía tây, khung cảnh vườn thượng uyển đẹp tráng lệ với muôn vàn cảnh sắc lạ lùng, kỳ ảo. Tôi liên tục trầm trồ thán phục những kỳ quan đáng kinh ngạc đó, cảm nhận hết mọi hương thơm hoa trái, mọi sắc thái tinh tế của cảnh bồng lai nơi hạ giới này, nhưng mặt khác tôi cũng luôn cảm thấy nụ cười chế giễu của cô ta sau lưng, hoàng hậu Thiên Hương, tôi cũng luôn thấy tràn ngập trong mọi bông hoa, mọi trái cây, hơi ẩm… tất cả đều mang mùi hương thân thể cô ta, nó giống như một thứ bùa mê, thứ đã khiến nhà vua không thể thoát ra nổi, mặc dầu đôi khi lý trí của ông ta đủ mạnh để nhận ra, vừa đủ để muốn thoát ra, nhưng chỉ thế thôi cũng không đủ, nó chỉ xảy ra trong chốc lát, và sức mê hoặc từ người đàn bà kia ngay sau đó lại lập tức bẻ gãy ý chí của ông ta.

Cũng có thể tôi nhầm lẫn, đó chỉ là hiệu ứng mùi xạ hương gây ra, hoặc bởi trí óc tôi hơi mẫn cảm, dễ bị kích thích. Từ khi còn bé tôi đã là một kẻ mơ mộng, hay tưởng tượng ra những viễn cảnh lạ lùng, đôi khi đẩy nó đi hơi quá xa, và dần dần chính tôi đã tin vào những huyễn hoặc ấy. Thậm chí có những lúc tôi tin vào những điều mình tưởng tượng còn hơn tin vào những hiện thực cuộc sống, với một lý do cuối cùng, rằng dù sao đi nữa thì nó cũng đã xảy ra, trong tâm trí tôi, và sự tồn tại của nó xác thực hơn cả những điều mà năm giác quan của con người có thể cảm nhận được. Một sáng tôi thức dậy, giả sử thế, tôi sẽ thế nào nếu bỗng dưng không còn thấy đôi tay, đôi chân, thân thể mình, không nhìn thấy bất cứ cái gì? Tôi không nghe thấy một âm thanh gì hết, không ngửi thấy mùi hôi nách của mình, không cảm thấy nóng lạnh, không thấy mùi vị gì của thức ăn nơi đầu lưỡi. Thế nhưng hãy hình dung tôi vẫn tư duy, tôi vẫn tồn tại, như một linh hồn mà người ta vẫn tin rằng nó tồn tại. Vậy khi đó với tôi điều gì là xác thực và đáng tin hơn? Tôi vẫn có những ước muốn, vẫn có những ý nghĩ, trong bóng tối vĩnh hằng, tôi biết có thể tất cả chỉ là một trò đùa của Đấng Tối Cao, đã điều khiển ngay cả những dạng tồn tại mong manh nhất, sơ khai nhất, là những suy nghĩ tồi tệ này, linh hồn vật vờ này, trong một khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi, mất hút trong chuỗi thời gian vô tận, vô thủy vô chung. Không còn điều gì còn là đáng tin nữa, khi đó, tất cả chỉ là những ảo giác, cả thế giới này, vũ trụ này, tất cả sẽ quay lại điểm khởi đầu, nơi bắt đầu của chuỗi thời gian, hoặc là nơi kết thúc, ai mà biết được, nhỡ đâu thời gian không phải chỉ là con đường cắm biển một chiều như chúng ta vẫn hằng tưởng?

Vua xứ mù Vua xứ mù 2 Vua xứ mù 3 Vua xứ mù 4 Vua xứ mù 5 Vua xứ mù 6 Vua xứ mù 7 Vua xứ mù 8 Vua xứ mù 9 Vua xứ mù 10 Vua xứ mù 11 Vua xứ mù 12 Vua xứ mù 13 Vua xứ mù 14 Vua xứ mù 15 Vua xứ mù 16

Chân dung những quái kiệt

In Uncategorized on Tháng Mười Hai 16, 2008 at 10:04 chiều

Người xưa coi “ngư, tiều, canh, mục” là bốn thú vui của người ẩn sĩ, gọi là Tứ thú, Tứ ẩn: Câu cá, đốn củi rừng, cày ruộng, chăn trâu. Nhưng đến nay thú câu cá, một trong tứ thú ấy, đã trở nên phổ biến khắp mọi giới chức và các thành phần xã hội. Đã ra đến hồ câu, họ không còn phân biệt nghề nghiệp hay sang hèn, chỉ còn là những người bạn câu đầy đam mê và thân thiện, một điều thật hiếm hoi đáng quý trong cuộc sống hiện đại đầy biến động ngày hôm nay.


Bộ ba nổi tiếng Công, Hạc, và Hưng “sần”:

Trong giới câu kéo lâu năm ở Hà Nội, hầu như ai cũng biết đến cái tên Hưng “sần”, thậm chí họ còn đọc chệch thành Hưng “sùi” nữa. Ấn tượng đầu tiên về người đàn ông này là dáng vẻ nghệ sĩ phong trần bụi bặm, cùng với cách nói chuyện điềm đạm, khiêm tốn. Thế nhưng thành tích câu cá to, đặc biệt là trắm đen, và lòng đam mê của anh ta khiến mọi người phải nể phục. Hàng tháng trời theo đuổi một con cá, tốn kém thời gian, tiền bạc và sức khỏe, nhưng dù được cá hay không anh ta vẫn trước sau như một kiên trì “săn” những con cá lớn vài chục ký. Tờ An Ninh Thế Giới từng đăng hai bài báo nhan đề “Người đốt tiền Đầm Trị” và “Trắm đen Đầm Trị” chính là nói về Hưng “sần”. Có thể nói trong làng câu, đạt đến “cảnh giới” này là hiếm có. Ba ngày đi câu bị “móm” (không được cá) đã khiến người thường chán nản, nhưng với anh ta thì cả vài tháng “móm” cũng chỉ là “chuyện thường ngày ở huyện”. Trong lúc chờ đợi con cá to, thường xuyên câu được những con cá dăm bảy cân, với anh ta hầu như không ý nghĩa gì. Thế nhưng thấy người tập câu không quen biết ngồi cạnh đang loay hoay với những chú cá đôi ba ký, anh lập tức buông cần quay sang chỉ bảo tận tình cách kéo con cá vào bờ làm sao cho khéo léo nhẹ nhàng, như thể những con cá ấy bằng vàng vậy. Những ai mới tập câu mới biết cái cảm giác trân trọng con cá đầu tiên đến vậy. Chính vì thế Hưng “sần” đi đến đâu ai ai cũng quý mến, đến nỗi cứ thấy anh ngồi câu ở đâu là y rằng có vài gã lạ hoắc hâm mộ xách rượu bia đến ngồi tỉ tê như đã biết nhau từ lâu lắm, thế là đâm ra chả còn câu kéo gì được nữa.
Chơi khá thân với Hưng “sần” là hai người nữa tên Công và Hạc, đều là những cao thủ săn trắm đen Đầm Trị. Anh Hạc có một nhà hàng đặc sản tôm cua cá ngay sát Đầm Trị, lối vào Phủ Tây Hồ, vì thế cả ba người này đều thuộc địa hình đáy hồ như lòng bàn tay, thậm chí họ biết rõ còn bao nhiêu con cá to trong đầm, thói quen và vị trí ưa thích đi kiếm ăn của chúng. Mỗi người trong số họ đều đã câu được hàng trăm con trắm đen, với những con cá to kỷ lục ba bốn chục ký. Kinh nghiệm câu các loại cá của họ bao năm xứng đáng được dân câu gọi là “quái kiệt”!



Triệu Du – Chủ nhiệm hệ thống CLB Âu Lạc:

Mê câu cá quả từ thuở thanh niên, bôn ba sóng gió biển cả nhiều, cuộc đời nhiều giông bão thăng trầm, cuối cùng người đàn ông này đã tìm thấy chính mình sau nhiều năm trời đi mải miết. Lạ cái là con người ta lại tìm thấy bản ngã của mình ở cái thú câu cá tưởng như tầm phào vô bổ nhất. Trên đất nước Việt Nam này, hiện nay, cứ nơi nào có những ngày hội câu cá là anh ta có mặt. Trót vác tù và hàng tổng, làm chủ nhiệm hệ thống CLB câu cá Âu Lạc, với mục đích phát triển môn thể thao câu cá khắp đất nước, việc nay đây mai đó câu cá với người đàn ông này là lẽ đương nhiên không phải bàn cãi. Vừa mới hôm nay ở Côn Đảo câu hàng tạ cá đại dương, hôm sau đã có mặt ở Điện Biên đi câu những con cá suối bé tẹo mà tinh ranh lanh lẹ, hôm sau nữa có khi anh ta lại đang ở miền Trung. Thật đúng như slogan “Mãi mãi là cần thủ” – Cuộc đời người đàn ông này là những con đường và giang hồ biển cả.

Ở đời, trừ những người phụ nữ đặc biệt, chứ ít bà vợ nào chịu nổi một ông chồng đam mê câu đến thế. Đầu năm mới, ngay sáng mồng một tết đã vác cần ra hồ câu, phải nói là số một. Đời sống tình cảm nhiều trắc trở, nên hiện nay ngoài câu cá và công việc kinh doanh, người đàn ông này vẫn đang mải miết đi tìm nốt “một nửa còn lại” của mình.


Mạnh Toán – Tay câu nghịch ngầm

Là chủ nhiệm CLB Âu Lạc Hà Đông, chủ của ba hồ câu dịch vụ và cơ sở sản xuất đồ gỗ. Tay câu này có tuổi đời còn trẻ nhưng tuổi cầm cần thì cũng thuộc dạng “có sao có vạch” – Thậm chí nhiều chủ hồ câu cứ nhìn thấy anh ta là từ chối phục vụ, bởi họ đã từng biết anh ta sát cá như thế nào. Cũng có bề dày thành tích săn trắm đen – loại cá to, khó câu, thịt ngon, là niềm mơ ước của hầu hết các tay câu, ngoài ra anh ta còn tỉ mẩn nghiên cứu các loại mồi câu. Nhiều khi mang cá về tự tay anh ta mổ cá, lấy kính lúp ra soi ruột cá xem mỗi loài cá ưa thích loại thức ăn gì. Các cụ nói lắm tài nhiều tật quả không sai, độ chịu chơi của tay câu này là khét tiếng, mặc dù trông bề ngoài thì khá hiền lành thư sinh.

Có chuyện này khá buồn cười: Số là đã nghe nhiều về Hưng “sần” nhưng chưa biết mặt, một hôm gặp nhau ở hồ câu, thấy một lão cứ khua tay múa chân nói về trắm đen, Toán nhà ta mới mới ngứa mắt dọa: “Có biết Hưng sần không? Sư phụ tôi đấy” – Lão kia quay sang bảo: “Hưng sần là thằng nào? Tao đéo cần biết!” – Toán cười ha hả bảo: “Thế thì đừng có kiêu!” rồi bắt đầu ba hoa về “sư phụ” của mình, đâu có ngờ người trước mặt chính là thần tượng Hưng “sần”. Thế rồi sau những phút tẽn tò được biết sự thật, anh ta trở thành “đệ tử” của Hưng “sần” từ ngày đó.

Sau một thời gian bị các hồ câu từ chối phục vụ, anh ta mở liền một lúc ba hồ câu dịch vụ ở Hà Đông cho thỏa chí, sẵn sàng làm hài lòng ngay cả các “thượng đế” khó tính nhất. Không giấu nghề, anh ta còn viết lại cả một bài công phu mô tả những bí quyết và tiểu xảo săn trắm đen chia sẻ cho tất cả mọi người, đến nay nhiều người đi câu cũng đã thuộc nằm lòng.

Ngoài sát cá, anh chàng này cũng nổi tiếng sát gái, bởi vẻ đẹp trai, hàng ria con kiến và cái lối nói chuyện rủ rỉ. Thi thoảng gọi điện không liên lạc được
mọi người lại đoán già đoán non: “Chắc vợ hắn lại đập di động rồi”

Mặc dù tự nhận mình là một gã nhà quê, nhưng dân câu thành thị nhìn thấy gã là cũng lắc đầu lè lưỡi nhất trí: “Tay này quái lắm đấy, đừng có đùa với hắn nhé, chịu chơi lắm đó!”


Huỳnh Minh Định hai năm liền vô địch giải câu TP.HCM, sản xuất mồi câu, cả gia đình mê câu cá.

Nhà báo Việt Hòa, một người mê câu và am hiểu lĩnh vực này đã tặng cho mồi câu do Huỳnh Minh Định sản xuất bốn chữ: “Hiệu Quả – Vi Diệu” – Ngày nay trên bao bì mồi câu của cơ sở sản xuất này luôn luôn có bốn chữ ấy, như khẳng định ngắn gọn về chất lượng của nó. Chuyện được dân câu TP.HCM hay nhắc đến là Định Đồng Diều (tên quen gọi) đi câu ở đâu thấy ai có mồi câu gì là lạ hay hay liền ngỏ ý xin một ít bỏ vào mồm nếm thử, bất kể nguồn gốc những thứ mồi ấy là rất đáng ngờ. Thông thường người ta chỉ dám ngửi mồi câu để phân biệt và cảm nhận, chứ nếm thử thì ít ai dám. Có thể nói Định Đồng Diều đã tìm cách hiểu con cá qua mồi câu, cảm nhận nó đến mức tối đa. Mọi người hay đùa là tay này đã bắt đầu suy nghĩ theo kiểu của cá rồi. Chả thế mà cứ tổ chức thi câu thì cái tên Định Đồng Diều luôn đứng trong top đầu, thậm chí cả gia đình anh từ vợ đến con cũng đều câu cá rất giỏi.

Nếu bạn không đủ kiên nhẫn và không biết cách lắng nghe, đừng bao giờ dại dột gợi chuyện câu cá với anh chàng này, vì anh ta có thể nói liên tục về chủ đề cá ngày này qua ngày khác. Cũng đừng bao giờ mời anh ta câu thử mồi câu của bạn trong những dịp thi câu, anh ta sẽ chỉ cảm ơn và nếm thử, chứ không bao giờ câu bằng mồi đó.

Tóm lại, đó là một tay câu cực kỳ dễ thương, luôn sẵn sàng giúp đỡ bạn bè, chia sẻ mọi kinh nghiệm về câu cá. Nếu là một người mê câu cá, bạn không nên bỏ lỡ cơ hội được học hỏi ở anh ta đôi điều.


Nhà báo Việt Hòa – Kẻ lãng du câu cá

Khắp biển cả sông hồ từ Nam ra Bắc, nơi đâu cũng từng in dấu chân anh.

Đây là người đầu tiên xuất bản liền hai tập sách “Thú đi câu” chia sẻ hầu như toàn bộ kinh nghiệm, kỹ thuật câu tích lũy được sau bao nhiêu năm cầm cần. Hai tập sách đã được dân câu khắp nơi đón đọc. Ngòi bút tài hoa của Việt Hòa đã lay động cảm xúc của rất nhiều người mê câu, đánh thức họ nhớ lại những giây phút hồi hộp run rẩy, những kỷ niệm khó quên, những chuyến phiêu lưu chân trời góc bể. Chính vì thế phải nói rằng người có công lớn trong việc thúc đẩy phong trào câu cá ở Việt Nam chính là Việt Hòa, có lẽ cũng giống như Nguyễn Anh Nguyên, họ đã truyền cảm hứng mạnh mẽ đến đông đảo người câu cá. Hai tập sách “Thú đi câu” đã khái quát và hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến lĩnh vực câu cá, trở thành cẩm nang cho những người mới tập câu.

Vì lẽ đó, rất nhiều người câu cá hiện nay coi anh như “sư phụ”.


Hồ Văn Hán – Lão tướng sành điệu.

Ngoài am hiểu về lĩnh vực câu cá, kinh nghiệm và tuổi tác, “lão làng” Hồ Văn Hán còn sành điệu đúng nghĩa khi sở hữu bộ sưu tập đồ câu ít ai bì kịp. Một số người được chiêm ngưỡng bộ sưu tập của ông luôn tỏ vẻ trầm trồ thán phục khi kể lại. Đó là những chiếc cần câu và máy câu cổ, là những thứ đồ câu lạ lùng nhất mà con người ta có thể nghĩ ra được, đến mức nó vừa là ngư cụ vừa là những tác phẩm nghệ thuật. Tất nhiên khi đã sở hữu những món đồ chơi này, chủ nhân của nó biết rõ giá trị và hiểu cặn kẽ tính năng, cách sử dụng, bề dày lịch sử… Nó chính là những tư liệu lao động sản xuất, mang trong mình cả những giá trị truyền thống và văn hóa của các dân tộc khác nhau trên thế giới.

Bản chất môn câu cá chính là lý thuyết thực hành. Người ta đúc rút kinh nghiệm đánh bắt cá lại và đem ra thực hành. Chừng nào loài cá chưa thay đổi thói quen ăn mồi thì lý thuyết còn đúng. Người câu cá sẽ rất hoang mang nếu rõ ràng dưới nước đầy cá, thiết bị và mồi câu đầy đủ, mà hà cớ gì lại không câu được. Vậy là có điều gì đó đã sai ở đây? Còn thông thường thì mọi chuyện đều đúng đắn, theo quy luật muôn đời của chúng.

Có một chuyến câu lênh đênh trên biển, trong khi tất cả mọi người không đủ kiên nhẫn câu cá thu và chuyển sang câu đáy bắt các loài cá khác nhỏ hơn, thì riêng lão tướng Hồ Văn Hán vẫn kiên trì câu lửng để bắt cá thu, mặc dù hy vọng rất mong manh. Thế nhưng cuối cùng ông đã câu được cá thu, ông đã chứng minh cho thấy đó là cách câu đúng và hiệu quả.

Các nghệ sĩ mê câu:

Nhạc sĩ Hồ Hoài Anh (đang nhăn mặt pha trò) trong một chuyến câu Côn Đảo.

Đó là nhạc sĩ Phó Đức Phương và Hồ Hoài Anh. Hầu hết các buổi câu thi và giao lưu họ đều có mặt. Mọi người hay đùa rằng nếu để ý thì thấy rõ nhạc sĩ Phó Đức Phương viết rất nhiều ca khúc nổi tiếng về… hồ nước, hẳn là mê câu cá sông nước thì mới thế! Nhạc sĩ Phó Đức Phương là hội viên danh dự của CLB Âu Lạc, còn Hồ Hoài Anh tuy mới tập câu nhưng đã nhanh chóng mê mẩn đến nỗi phải giấu người yêu trốn ra Côn Đảo câu cá. Gặp ngoài hồ câu nhiều người ngỡ ngàng khi phát hiện ra một Hồ Hoài Anh bụi bặm lem luốc mồ hôi ngồi thu lu ôm cần chăm chú vào chiếc phao đỏ bập bềnh trên mặt nước, khác hẳn hình ảnh một đội trưởng nho nhã trên sân khấu “Trò chơi âm nhạc” màn hình ti vi quen thuộc – Từ ngày gia nhập làng câu, anh chàng này hay được giao nhiệm vụ làm MC, đúng nghề của chàng, không những thế anh chàng nhạc sĩ này cũng học hỏi rất nhanh và khá là sát cá, chẳng chịu thua kém các đàn anh đi trước bao nhiêu.


Nhạc sĩ Phó Đức Phương (đội mũ Aulac Club)

TTVH & Đàn Ông

PS: Còn một tay câu nick QcQ cũng được liệt vào hàng quái… vật, nhưng mình chán nói về tay này rồi.

Sến tập 3

In Uncategorized on Tháng Mười Hai 15, 2008 at 5:44 chiều

Đầu tiên các bạn cứ bấm vào link nghe bài Xuân này con không về – nghe đi đã rồi hẵng nói chuyện!

Bản này do Duy Khánh hát, phối khí khá ngon, thâu âm năm 1975, có lẽ ngay trước sự kiện ba mươi tháng tư, có nghĩa là nó ở giai đoạn cuối cuộc chiến, lúc mà cả 2 bên đều oải lắm rồi, chỉ muốn giải quyết cho xong. Bài này nghe qua tưởng như là lên giây cót tinh thần binh sĩ, chứ thực ra có lẽ nó là bài hát phản chiến nhất trong những bài phản chiến. Lính tráng nghe xong khóc rưng rức giã từ vũ khí đào ngũ cả lượt. Hồi đó Duy Khánh 39 cái xuân xanh còn khá trẻ, giọng chưa run rẩy như bây giờ, à quên, như sau này (ổng đi về nơi xa lắm hồi 2003 rồi còn đâu!). Mấy anh lính nhà mình nằm chốt ở Hà Giang kể hồi những năm 86, 88, mỗi lần tết về phép qua thị xã nghe bài này nhân dân phố thị mở giàn AKAI, cassette… rồi nhìn cảnh bến xe bãi chợ nhà nhà chuẩn bị lá dong gói bánh, tự dưng nghe sống mũi cay cay, nước mắt nước mũi trào ra, tủi thân không phím nào tả xiết. Chẳng là dạo đó lính oánh nhau thì kệ mẹ lính, nhân dân đói vàng mắt chán ngán oánh nhau lắm rồi, đếch quan tâm, thậm chí nhìn thấy lính là như nhìn thấy bọn dở người vậy. Thế nên mới có quả xuyên tạc: “Dù rằng đời ta thích ăn hành, kẻ thù buộc ta ăn rau muống…”

Entry này nối tiếp 2 entry trước là Sến cực!Sến phần 2 – Muốn biết nguồn gốc tại sao lại gọi là nhạc sến, mời các bạn đọc Tản mạn nhạc sến!

 

Sắp tết rồi đấy nhỉ? Mặc dù là người chủ trương sến hiện sinh lạc quan (hehe, triết vãi chưởng!) – nhưng mình thấy hiện tại và tương lai là thứ con người không thể nắm bắt được. Nếu có, hiện tại chỉ là những khoảng khắc, như các bạn thiền hay gọi là sát na ấy, mà chúng ta luôn chậm mất một bước, luôn đánh mất thời gian, suy rộng ra là chừng nào còn thở phì phò trên cõi đời này, các bạn chỉ có những ký ức, các bạn luôn bị đánh lừa. Cuộc đời thực ra không nên ví von như một giấc mộng ngắn ngủi hồn bướm mơ tiên, mình là bướm hay bướm là mình, v v… mà nên nói rằng cơn ác mộng dài đằng đẵng như là cuộc đời này.

Vậy nên tặng các bạn vài chuyện cũ làm quà nhân dịp sắp đến tết:

Nhớ tết năm nao

Thế mới gọi là Tết

Ngày vui qua mau

Du hí đầu Xuân

Lời ngỏ đầu năm mới

Lan man lảm nhảm đầu năm

Sến phần 2

In Uncategorized on Tháng Mười Hai 15, 2008 at 1:20 chiều

Hồi đâu như những năm 86, 87 gì đấy, có lẽ vậy, hồi đó ti vi rất hiếm, mà toàn ti vi đen trắng, chỉ nhà nào khá giả mới sắm được. Nhà nào có một chiếc Neptuyn đen trắng thì lập tức nhà nấy sẽ tự động biến thành cái rạp chiếu miễn phí. Cứ sau giờ chiếu Bông hoa nhỏ, Thời sự, là hàng xóm lác đác kéo sang, mồm vẫn còn ngậm que tăm. Gia chủ đã tự giác pha ấm trà to tổ chảng đặt sẵn trên bàn từ lúc nào, tất nhiên rồi, đã có ti vi thì được coi như đại gia, trà thuốc là chuyện nhỏ! Các cụ chiếu trên ngồi xỉa răng nhấp trà bắn thuốc lào thuốc lá xem thời sự nói chuyện Góc-ba-chốp rồi khối Vác-xa-va rồi chiến tranh lạnh, toàn chuyện trầm trọng, trong lúc chờ xem phim. Đến giờ chiếu phim Bạch tuộc thì nhà chẳng còn chỗ trống, tất cả ngồi xếp bằng trên sàn nhà, mồm há hốc, mắt dán vào thanh tra Catania đẹp giai một mình chống lại mafia, mà cái thằng Tano Carreti trông mới lạnh lùng làm sao! Mexico 86 là ngày hội bóng đá đầu tiên của mình, nửa đêm dậy đi theo bố sang nhà hàng xóm xem, lúc đó ban nhạc Joy mới nổi với bài Touch by touch, mỗi lần chờ đợi xem bóng đá họ phát đi phát lại, thanh thiếu niên mê mẩn. Video clip đó mình còn nhớ 3 anh chàng tóc dài dài xoăn xoăn mặc quần jean bó, giày thể thao, áo thể thao, đứng ôm đàn nhún nhảy giữa 2 cái gương quay quay: “touch by touch, you’re my all time lover…” – Sau này thì có Modern Talking tua đi tua lại “you’re my heart, you’re my soul…”, rồi chị Sandra má lúm đồng tiền yêu ơi là yêu, nhớ chị hát cái gì mà hihihi, 222, hehehe, thật đấy, rồi Hiroshima, Midnight man

Đời sống tinh thần của mình hồi ấy là như thế, gồm có sáng dậy tút tút tít tít 6h đài TNVN, nhai cơm rang chan nước mắm đến 6h30 quân đội nhân dân, quân rận nhân đôi = nhân 2, là quân hại nhân dân, rồi thì đi học, ở trường cô dậy em thế, em mang trên vai thùng kem to tướng, năm hào một chiếc em bán đồng đôi, thằng nào lôi thôi ăn bạt tai đá đít… Cho đến lúc còi tầm tan ca sáng là đang trên đường đi học về là đi học về em vào nhà em chào cha mẹ lúc 12h trưa, đến 12h30 là nhạc hiệu chương trình cái gì mà công nông thương nghiệp và phân phối lưu thông, nghe rất buồn cười, rồi lúc sau còi tầm kêu ủ ủ ú ú ù ù… báo hiệu vào ca chiều thì ngủ trưa, trong lúc đó loa truyền thanh vẫn lải nhải. Buổi trưa mình sẽ cố tìm một cuốn truyện nào đó đọc cho buồn ngủ, cái này dễ thôi, tủ sách giáo khoa của bố mẹ đầy những thứ chán chết kiểu như “Lý luận và giảng dạy văn học” hoặc “Văn học VN giai đoạn 30-45”, v v…

Lúc thức dậy, khoảng 3h chiều, cái giờ luôn quá sớm hoặc quá muộn để làm cái gì đấy ra hồn, cũng không thể học hành vào cái giờ này. Thường thì mình sẽ ngồi ở đầu hè, chưa hết cơn ngái ngủ. Nhà bên có cô giáo dạy Nga văn mở đĩa hát “Triệu bông hồng” làm mình thức giấc trưa: “Миллион, Миллион, Миллион алых роз…” Mình nghe bài này cũng triệu triệu lần rồi, nên buồn buồn hát theo: “mí lí ốn, mi li ôn, mì lì ồn, nghe phát chán!..”

Mình căm ghét những giai điệu nhí nhảnh của những bản nhạc Nga tiếp theo, trong xấp đĩa nhạc tiếp theo, mà cô giáo này sẽ mở, theo một lập trình hầu như không đổi, ngày này qua ngày khác. Chỉ có một cách, đó là mở đài to hơn. Nào, đến lúc tỉnh ngủ rồi đây. Mình sẽ lững thững rời bậc thềm vào nhà, uể oải mở nắp chiếc đài Melodia, gạt chiết áp lên hết cỡ, chọn chiếc đĩa Tình Biển của Dihaviana (Đĩa hát Việt Nam, khổ ạ, các bạn 8x và 9x có khi đếch biết đĩa than Dihavina nó là cái quái gì), đặt chiếc kim vào thẳng đoạn giữa bài hát, chiếc đài lập tức ré lên điệp khúc “Mai anh rời xa bờ quê hương tuyệt đẹp. Anh ra biển rộng ngoài khơi xa nghìn trùng…” – Đoạn này rock dồn dập tưng bừng như Metallica… hehe, bên nhà hàng xóm mất điện luôn. Đĩa lấy chủ đề Tình biển nên trong đó còn có Mùa xuân từ những giếng dầu. Hehe, nghe rất máu nhá: “Hu hú hu hà ha há ha Hu hú hu hà ha há ha Mùa xuân đến từ những giếng dầu. Mùa xuân đến từ những nụ hoa thắm màu. Mùa xuân đến rạo rực lòng ta. Mùa xuân đến làm đẹp bài ca. Mùa xuân từ những giàn khoan. Giữa biển khơi nghìn trùng sóng vỗ. Mùa xuân từ những bàn tay. Với tấm lòng Việt Nam Liên XôHu hú hu hà ha há ha Hu hú hu hà ha há ha”

Có cả bài gì mà “Cháy! Cháy! Cháy!” À đúng rồi, đó là Ngọn lửa cao nguyên của Trần Tiến, rock kinh điển luôn: “Một ngọn lửa hồng còn bên ta… á hà ha! Cháy lên ơi lửa thiêng! Cháy mãi cho bóng em hiện ra! Cháy lên đi lửa thiêng cao nguyên! A ha ha người ơi!…”

Sau này cô giáo hàng xóm, trong một lần tâm sự hiếm hoi, cô có thú nhận là cô sợ nhất bài hát cháy bỏng này, nó thiêu đốt ruột gan cô, khiến cô như muốn phát điên, nhất là vào những trưa hè.

Thực ra mình cũng đâu có thích thú gì cháy mãi, nên sau khi thấy bên hàng xóm mất điện toàn phần, mình đổi đĩa ngay. Cũng chẳng có nhiều lựa chọn, loanh quanh vài đĩa nhạc vàng loại 45 vòng/phút mỗi mặt đĩa chứa kịch kim được 3 bài, khoảng 15 phút. Vài đĩa nhạc Dihavina loại 33 vòng/phút như đĩa Thanh Hoa, đĩa Cò lả, chèo Lưu Bình Dương Lễ, vở cải lương Tìm đến một bài ca, hòa tấu guitare Francis Goya. Hết.

Trong số đó nhớ có một bài hát được bắt đầu bằng câu: “Ta lái con thuyền, xuôi ngược những dòng sông. Chẳng nói bao nhiêu, mà ấm trong lòng…” bài hát này có giai điệu khá hay, mà sau quên mất, chưa từng được nghe lại. Một lần đọc truyện “Thiên đường mù” của Dương Thu Hương hình như cũng có nhắc đến bài hát này, lúc nhân vật “tôi” đang suy tư hồi tưởng trên chuyến tàu.

Những đĩa nhạc vàng ưa thích hồi đó của mình là “Lệ đá” do Nhật Trường hát, Lệ Thu thì hát “Phiên gác đầu tiên”, Chế Linh hát “Lời kẻ đăng trình” nghe sầu thảm kinh hồn, rồi “Tình bơ vơ” với cái câu “Trời vào thu, Việt Nam buồn lắm em ơi, mây tím đang dâng cao vời…” – Vào những năm cuối thời kỳ bao cấp, trời Việt Nam lúc đéo nào mà chả buồn?

Đặc biệt là vào lúc 4 rưỡi chiều, khi tiếng loa truyền thanh vang lên nhạc hiệu Ba mươi phút dân ca và nhạc cổ truyền của đài TNVN, cũng là lúc thằng bé hết những giờ phút mơ mộng, bắt đầu làm việc nhà, cơm nước, phụ giúp bố mẹ làm việc này việc nọ linh tinh. Trong lúc đó thường là loa đài vang lên những bản ca Huế thê lương rầu rĩ, ai oán, sau này không hiểu sao mỗi lần nghe mình lại hình dung ra mấy mợ nạ dòng lên đồng kẹp mấy cái chén ở tay đứng nhún nhảy, như cái hồi ra điện Hòn Chén tham quan.

Buổi tối là lúc vui vẻ nhất, nếu như được cho phép xem ti vi, còn thường thì phải học bài. Mãi đâu như cuối những năm 80 nhà mình mới mua được cái ti vi Samsung đen trắng 14 inch, hồi đó nó vẫn còn cái logo cũ hình 3 ngôi sao, chuyển kênh bằng cái núm to bự, mỗi lần bật kêu tành tạch, hình như 12 kênh thì phải.

Giai đoạn này ở rạp và các tụ điểm tư nhân họ bắt đầu chiếu video, và rạp hầu như thôi không chiếu phim nhựa nữa (trước đó nhớ có phim Bông hồng đen rất hot! Có anh chàng diễn viên đóng vai gì suốt ngày cắn hạt hướng dương, tuy phim Liên Xô mà điệu bộ như cowboy Mỹ). Những phim video hồi đó được ưa thích là “Đời kỹ nữ”, đặc biệt là “Công lý và sự báo thù” của Ấn Độ đánh nhau thùm thụp, diễn viên đẹp giai xinh gái, đấm đá chan chát, lại xen vào những cảnh hát hò như cải lương, các giọng ca để thừa echo ngân nga vang vang rất mùi mẫn. Cá biệt có một lần ở rạp chiếu bộ phim hài của Pháp về đĩa bay và những người từ hành tinh khác đến, bọn người máy từ hành tinh khác đến có khả năng thay đổi hình dáng giống y hệt bất cứ người trái đất nào, thế là vô số các tình huống nhầm lẫn buồn cười bắt đầu xảy ra, mỗi tội bọn người máy này phải liên tục uống dầu nhớt, gõ vào người chúng thì kêu boong boong, và nếu dính nước thì chúng tiêu luôn. Sau này có phim chưởng Hong Kong như “Tương kế tựu kế”, “Lý Tiểu Long”… Mãi đến những năm đầu 90 thì chưởng bộ Hong Kong mới bắt đầu tràn lan khắp nơi.

Thường thì buổi tối sẽ trôi qua trong nhàm chán. Những bộ phim có khi hồi đó cả tháng mới được xem một lần. Thanh niên sành điệu đi rạp luôn mang theo đèn pin, mỗi lần đang xem phim mất điện là thi nhau soi lên màn phông trắng khoe đèn sáng hơn, chụm hơn, rồi bắt đầu lắc cổ tay trình diễn màn vờn tia đèn đuổi nhau xoay tròn. Cũng có khi chỉ vì khoe đèn pin mà oánh nhau vỡ đầu.

Mất điện là chuyện cơm bữa, thường xuyên thắp đèn dầu, đến giờ nhà mình vẫn còn giữ chiếc đèn tọa đăng to tướng bằng đồng, với chiếc bóng dài ngoằng. Mùa hè mà ngồi học gần cái đèn này thì nóng chết khiếp!

Nhạc hiệu chầm chậm buồn buồn của chương trình Đọc truyện đêm khuya, hoặc chương trình Tiếng thơ, rồi cuối cùng cũng đến, báo hiệu đã đến giờ đi ngủ. Một ngày tẻ nhạt như mọi ngày nữa sẽ trôi qua. Nằm trong bóng tối, nghe văng vẳng giọng đọc truyền cảm của nữ phát thanh viên nào đó, câu được câu mất, lúc trầm lúc bổng, một câu chuyện nào đó không rõ. Hoặc sẽ nghe những giọng ngâm thơ cất lên trên nền đệm của tiếng nhạc gợi cảnh hoang vắng hiu hắt. Không rõ nữa, giấc ngủ rồi sẽ đến, mọi thứ chìm vào quên lãng.