dangthieuquang

Đảo Cát Trắng 8

In Uncategorized on Tháng Bảy 21, 2007 at 12:19 chiều

Ông La chính là xã trưởng của hòn đảo này. Tôi biết điều đó qua các cô gái phục vụ ở Cối Xay Gió. Hòn đảo này không đủ lớn để trở thành một huyện, thậm chí nó được gọi là một xã cũng đã tốt lắm rồi. Phía Đông Bắc hòn đảo có một ngọn đèn hải đăng xây dựng từ thời Pháp thuộc, đêm đến nó lờ đờ lia những tia sáng nhợt nhạt ra phía biển khơi, nom rất uể oải. Nó như một thanh kiếm cùn hoen gỉ. Ở quầy bar có một tấm ảnh chụp ngọn hải đăng, tấm ảnh đen trắng cố làm ra vẻ cũ kỹ nhằm thu hút du khách. Ngọn hải đăng được xây bằng đá, trông giống như một cái dương vật khổng lồ đang cương cứng. Còn những khối đá lớn kỳ dị bên dưới thì giống như những hòn bìu lổn nhổn.

Bên cạnh dán những tờ giấy in chữ to với nội dung như sau:

“Theo lịch sử hàng hải, Đảo Cát Trắng được coi là một vị trí cực kỳ hiểm yếu của vùng biển Đông. Ngay từ các thế kỷ trước đã có rất nhiều thuyền buôn qua lại nơi đây và bị đắm do không xác định được tọa độ, vị trí. Để đáp ứng nhu cầu vận tải của quân đội Pháp cũng như tàu buôn của nước ngoài qua đây, người Pháp đã nghiên cứu và cho xây dựng ngọn Hải đăng Đảo Cát Trắng. Trong thời gian xây dựng hải đăng, có rất nhiều người chết do tai nạn. Hiện nay, ở đây vẫn còn nghĩa địa yên nghỉ của những người đã chết khi xây dựng công trình này.

Bên trong hải đăng có 184 bậc thang xoáy ốc bằng thép dẫn đến đỉnh Hải đăng cùng hàng chục bậc tam cấp dẫn lên đến đỉnh đèn. Tất cả đều được đưa từ Pháp sang, kể cả ngọn đèn trên đỉnh và máy phát điện. Với quy mô này, Hải đăng Cát Trắng hiện là một trong những ngọn hải đăng cao và cổ xưa nhất Việt Nam nói riêng và vùng Đông Nam Á nói chung.”

Tờ thứ hai ghi:

“Thông tin thêm: Xây dựng: tháng 2 năm 1897 – cuối năm 1898. Bắt đầu hoạt động: năm 1900. Chất liệu: đá. Chiều cao: 35m chiều cao toàn bộ tính từ tầm ngọn đèn đến mặt biển: 65m. Kích thước mỗi cạnh (chân): rộng 3m, đỉnh rộng 2,5m. Bề dày tường: từ chân đến độ cao 6m là 1,6m, càng lên cao độ dày càng giảm từ 1,50m và mỏng nhất ở đỉnh tháp là 1m. Bóng đèn: 2.000W. Đèn mới này của Mỹ sản xuất, thay thế cho chiếc đèn cũ kỹ của Pháp, hiện thắp sáng bằng dòng điện từ pin năng lượng mặt trời. Hải đăng phát tín hiệu đèn 3+1, ba tia sáng liên tục và một tia gián đoạn, chu kỳ một vòng quay là 20 giây. Đây là tín hiệu phân biệt hải đăng Đảo Cát Trắng với các hải đăng còn lại.

 

Bán kính quét sáng trên biển: 22 hải lý, tương đương 40 km, dùng làm tín hiệu hướng dẫn tàubè qua lại. Có một tấm đá hoa cương lớn đặt ngay trước cửa vào Hải đăng khắc năm 1899. Tấm đá hoa cương này chưa biết người Pháp đưa từ đâu đến vì trong khu vực không có loại đá này. Không phải chỉ là những viên đá bình thường có 4 góc mà tất cả những khối đá hoa cương dùng xây Hải đăng đều đã được chạm, khắc thành từng ô, từng hình cạnh khớp với nhau. Nghĩa là gần như có sẵn một ngọn tháp bằng đá đã được làm sẵn, khi xây chỉ cần lắp đặt vào đúng thứ tự, góc cạnh từ dưới lên trên và chỉ cần đưa vữa vào là kết dính lại, không cần phải trét sửa chữa.”

 

Tờ thứ ba ghi:

 

“Từ đó đến nay ngọn hải đăng đêm

nào cũng đỏ đèn, ánh sáng từ ngọn hải đăng này nhấp nháy liên tục để báo hiệu cho tàu thuyền một vị trí chuyển hướng quan trọng. Đến đây ở vị trí nào cũng có thể hứng cả gió tây nam lẫn gió đông bắc nên mùa nào, hướng nào khi gió tràn qua đây cũng lồng lên đến cấp 7. Gió rít qua các khe cửa hú lên những tràng dài, gợi lên những cảm giác thật quái lạ, ít nơi nào có.

 

Suốt đêm, ngọn hải đăng lặng lẽ quét những luồng ánh sáng dài trên mặt biển. Khi đứng ở chân ngọn hải đăng ta mới thấy được những luồng sáng này, còn khi ở xa, trong vòng bán kính 40km, các tàu đi biển sẽ thấy ngọn đèn nhấp nháy như một vì sao theo chu kỳ 20 giây một lần. Ngọn đèn quét vào không gian mênh mông những vệt sáng mạnh mẽ. Trên mặt biển tối như bưng, ngọn đèn nhấp nháy liên tục, làm tiêu lộ cho những chuyến tàu đi biển. Hải đăng là một trong ba ngọn hải đăng nằm trên đường hàng hải quốc tế.”

 

Tôi rất tò mò về ngọn hải đăng. Tên tôi là Tiểu Đăng, nghĩa là một ngọn đèn dầu, và đời tôi cũng leo lét như thế. Tôi thán phục sự bền bỉ của những ngọn hải đăng, có những ngọn hải đăng tồn tại từ cái thuở mà nó còn được thắp bằng dầu. Bao nhiêu năm trôi qua, nó đứng đó, cô độc và thầm lặng, dẫn đường chỉ lối cho những con tàu.

Đêm đầu tiên đến đảo, lúc ở bãi biển, ngọn hải đăng là thứ duy nhất để ngắm. Lúc đó vợ tôi cứ nhìn mãi ánh đèn quét ngang mặt biển. Ngọn hải đăng ở rất xa, mãi mũi đảo phía Đông Bắc.

– Mai mốt mình sẽ ra chụp ảnh ở ngọn hải đăng – lúc đó tôi đã nói vậy.

– Cái đèn biển ấy thì có gì lạ chứ – cô ta trả lời.

– Một công trình lịch sử đấy

– Em ghét lịch sử

Tôi không nói gì nữa. Sau đó tôi đè cô ta ra bãi cát. Tôi vụng về để cát dính vào cả cái của nợ ấy, lúc đó nó đang hứng và ướt nhèm, thế là hai đứa phải xuống biển tắm. Nước biển mát lạnh, cô ta vòng tay qua gáy tôi, quặp hai chân qua hông tôi.

Tôi sẽ không nhớ đến cô ta nữa.

Tôi ăn mỳ tôm, có vẻ một trong ba cô gái phục vụ có tình cảm gì với tôi thì phải. Bát mỳ của tôi hôm nay có bốn con tôm to bằng ngón cái, lại thêm một ít rau xanh, một quả ớt. Và ngạc nhiên nhất, là một miếng chanh tươi.

Gia đình kia ăn cháo ngao, món này tôi ăn thử rồi, rất nhanh đói. Với một người hay tập thể hình thì bát cháo đó chẳng khác gì một thìa súp. Ngoài gia đình kia, hôm nay Cối Xay Gió đón thêm một nhóm bốn thanh niên nữa, hai đôi trai gái. Bọn họ có lẽ chưa cưới, nhưng rất tình cảm, ôm ấp thân mật. Họ sôi nổi và hoạt bát, mang đến một không khí tươi trẻ. Họ có đến chào tôi làm quen, rồi lấy một phòng lớn. Vậy là Cối Xay Gió còn trống một phòng.

Tôi phát hiện thêm ra một điều, cái chong chóng xoay xoay trên mái của Cối Xay Gió, thực chất chính là một cái máy phát điện. Nó cung cấp gần như đủ nhu cầu điện cho cái quán trọ này. Máy phát điện chạy dầu chỉ dùng để hỗ trợ trong những lúc thiếu hụt điện. Nhóm thanh niên mang theo một chiếc đài du lịch hiệu Phillips, họ mở nhạc ồn ào.

Tôi đứng dậy đi ra ngoài, và không biết nên làm gì. Tôi đi ra phía biển. Tôi đứng trước biển, nhìn về phía ngọn hải đăng xa xa, mờ mờ. Vậy mà bọn trẻ con nói tôi đã bơi đến tận chỗ đó. Theo tôi nhớ láng máng cái bản đồ ở văn phòng công ty du lịch thì Đảo Cát Trắng nằm ở Cực Đông của quần đảo, và ngọn hải đăng chính là mũi nhô ra xa nhất về phía Đông. Ở đó sẽ là nơi đầu tiên đón ánh mặt trời mọc. Dường như ngọn hải đăng này được xây trên một quả núi nhỏ, một hòn đảo nhỏ. Vì đứng ở vị trí của tôi thì không thấy nó liền với đảo. Hoặc vì nó xa quá, bờ biển chạy một hình cong cong như lưỡi liềm, và ngọn hải đăng ở mũi nhọn của liềm. Các đảo nhỏ ở đây đôi khi cách nhau chỉ vài chục mét, có chỗ dày đặc tạo thành một mê cung. Riêng đảo cát trắng đủ rộng để có một hệ động thực vật phong phú, cùng những cồn cát trắng mênh mông. Một điều khiến tôi hết sức ngạc nhiên, đó là những cái giếng nước. Những cái giếng này ngay cạnh bãi biển, khi thuỷ triều lên nó chỉ cách những con sóng chừng chục mét. Vậy mà nước ngọt trong lành lúc nào cũng sẵn. Sau khi tắm biển, chỉ vài bước chân là đã có thể tắm nước ngọt thoải mái.

Tôi quay trở vào xóm chài. Tôi đi theo những dấu chân của mình lúc ban nãy, cố gắng dẫm vào đúng những vết ấy không để trượt ra ngoài. Từ khi nào chẳng rõ, tôi nhiễm thói quen đi chân đất. Ở đảo này sạch quá, trước khi đi ngủ chỉ cần xoa hai bàn chân vào nhau cho hết cát là xong. Mà cát ở đảo này thật kỳ lạ, trắng hơn cát ở bất cứ đâu, nhỏ li ti, mịn màng, tinh khiết. Đâu đâu cũng thấy cát trắng, loá mắt, run rẩy. May mà tôi có một đôi kính mát rẻ tiền. Những rừng thông trồng đều đặn dọc bờ biển có lẽ là rừng phòng hộ, lá thông khô rơi xuống tạo thành một lớp thảm êm và khô ráo. Tôi đi xuyên qua vạt thông nhỏ ấy, phát hiện ra rất nhiều kiến trú ngụ ở đó, những con kiến to kỳ lạ. Thi thoảng, hiếm lắm mới thấy một con chim lạ vụt bay khỏi tán cây. Nếu không có tiếng sóng vỗ, hẳn nơi đây phải im ắng tĩnh mịch tới vô cùng.

Bắt đầu nhìn thấy đất đai, mặc dù đất pha lẫn cát. Sắp đến xóm dân cư duy nhất trên đảo, không tính những người trông coi hải đăng và những nhân viên Cối Xay Gió.

Xóm chài có một thứ gần giống như con đường chạy qua, nó là một khoảng trống chạy dài thì đúng hơn. Hai bên khoảng trống ấy thi thoảng hiện ra một khoảng trống khác, là những ngôi nhà. Những ngôi nhà nhỏ dựng bằng gỗ và bện lá dừa, trông gần giống hệt như nhau, thấp lè tè.

Em Ly đang lúi húi làm gì đó ở hiên nhà, thấy tôi đến em lí nhí chào. Một vẻ e thẹn của em thoáng qua, hoặc có thể do ánh nắng hắt từ cát trắng lên khiến khuôn mặt em ửng hồng và sáng bừng. Mái tóc em thi thoảng có những giọt nắng rơi vào, nó rực lên như bén lửa. Một người đàn ông Pháp nào đó làm đốc công xây dựng ngọn hải đăng từ những năm 1900 đã ngủ với bà cụ kỵ ngoại của em Ly. Chả hiểu sao, theo như lời một số người nói lại, bà ngoại và mẹ em Ly nom không giống tây lắm, vậy mà đến lượt em thì cái gien Pháp kia lại trội lên vậy. Mẹ Ly chết từ mấy năm nay do bệnh tật. Ông La cứ ở vậy, dù trong xóm khối bà goá phụ. Cánh đàn ông trong xóm chết gần nửa từ hai năm trước, khi họ đánh cá ngoài khơi và gặp bão.

Ông La đang ngồi im lìm ở cái bàn nhỏ, khuôn mặt nhăn nheo bắt ánh sáng
hắt từ trảng cát trắng trước sân khiến cho nó trông càng khắc khổ. Đôi mắt ti hí của ông thi thoảng ánh lên vẻ độc ác và xa cách. Tôi chào ông, dù biết trước ông sẽ chẳng trả lời. Tôi ngồi xuống cái ghế mộc đối diện, ông La rót cho tôi một chén nước lá. Tôi uống thấy vị ngọt dịu, mát mẻ, thơm thơm.

– Chưa về à? – ông La bỗng khào khào hỏi.

– Chưa, cháu chưa về.

– Bữa trước mấy thằng gác đèn nó hỏi thăm mày.

– Bác vẫn hay qua đó ạ?

– Thì đánh cá ở đấy chứ đâu.

Tôi đợi ông La nói tiếp, nhưng ông ấy không nói thêm gì. Thỉnh thoảng ông rót thêm nước lá. Có lẽ ông ấy đang nghĩ đến mẹ em Ly. Kể cũng lạ, không hiểu cái đảo này lấy giống từ đâu và duy trì nòi giống theo cái kiểu gì nữa. Cũng không biết có bao nhiêu người liên quan huyết thống trên cái đảo lèo tèo vài mống này. Em Ly chuẩn bị bữa trưa, khuôn mặt em lấm tấm những giọt mồ hôi.

Tôi hỏi ông La, ông ấy lấy một quyển sổ ra đưa cho tôi. Theo danh sách trong sổ, đảo có tất cả ba mươi tám nhân khẩu. Trong đó gác hải đăng bốn người, Cối Xay Gió ba người. Vậy là dân chài có ba mươi mốt người. Ba mươi mốt con người này hoàn toàn không dùng đến tiền, hoàn toàn đổi chác hải sản để lấy những thứ nhu yếu phẩm mà những chuyến ca nô ghé qua. Họ đánh bắt tôm cá, cua cáy, đào sá sùng…cũng có một số nhà trồng được một số loại rau xanh. Nhưng rau chủ yếu vẫn được đưa từ đất liền ra.

Ông La không biết đọc, không biết viết. Thậm chí con số ông cũng không phân biệt được. Ông làm xã trưởng vì cái xã này ai cũng mù chữ như ông cả, mà người ta cần một người để giữ cuốn sổ này. Để làm gì cũng chả hiểu nốt. Cứ vài tháng lại có một cán bộ đến hỏi han tình hình. Có ai chết thì gạch tên, có trẻ con thì thêm tên vào. Tôi nhận thấy một số cái tên cụt lủn mà không có họ. Ví dụ thằng Đen, trong sổ nó là Đen, con em nó thì ghi là Đen Gái, mẹ nó là Mẹ Đen.

– Sao người ta không cho người đến dạy học? – tôi thắc mắc.

– Dạy học làm gì?

– Để xoá mù chữ.

– Xoá mù chữ làm gì?

– Để biết đọc biết viết – tôi mỉm cười trả lời, sợ ông La cáu lên.

Nhưng ông ấy lại im lặng và chìm vào trạng thái đờ đẫn. Tôi lật quyển sổ, tên người cán bộ ghi chép là Trần Hùng. Lần gần đây nhất anh ta ghi chép là cách đây hai tuần, sau khi những người gác hải đăng thông báo có một chiếc tàu lạ đỗ gần đảo, hôm sau có một người khách du lịch suýt chết đuối trôi dạt vào gần ngọn hải đăng và được một ngư dân cứu sống. Nhận được thông báo trên sóng radio, hôm sau nữa anh chàng cán bộ tên Trần Hùng kia mới được cử xuống đảo, cùng với một tay công an. Người khách suýt chết đó chính là tôi. Vậy là trong lúc tôi ốm miên man, họ đã đứng đâu đó rất gần, để xác minh nhân thân. Họ đã đến Cối Xay Gió, hỏi han những cô gái phục vụ. Chắc họ sẽ buông lời trêu ghẹo các cô gái. Họ ghi chép vào biên bản. Rồi họ lên ca nô trở về một trong những hòn đảo của quần đảo, đâu đó ở phía Tây. Những người dân ở đây gọi nơi đó là Đảo Lớn. Họ nói ở đó có bến cảng và một khu chợ tấp nập. Thi thoảng họ đến đó đổi chác những món hàng. Cũng có những người đến Đảo Lớn rồi không trở về nữa, xảy ra lâu rồi.

Tôi chợt nghĩ, có lẽ tôi sẽ không quay về đất liền, tôi sẽ ở lại đây. Mãi mãi.

  1. Lam sao doc duoc tieu thuyet MUA DA O SA PA tron ven? Hay ong doi tua de roi?

  2. “Chờ tuyết rơi” m ng đổi thnh “Mưa đ ở SaPa ” hở giời?
    Cc bạn c cng nhận với tớ l nh thơ lun lun sng tạo, nhỉ.

  3. God! Đọc xong ci ny chắc đi tự tử qu.

  4. Cha ơi! Vậy tớ sẽ viết mi khng dừng lại. Cứu vớt được một linh hồn băng gi.

  5. Vui vui! Cảm ơn anh nhiều!

  6. Hey Ice! Hy vừa đọc vừa nghe nhạc của bạn.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: