dangthieuquang

Chờ tuyết rơi ( 5 )

In Uncategorized on Tháng Một 27, 2007 at 12:01 chiều

 

 

– Anh có vẻ ít nói nhỉ? Cô ta nói.

– Tôi sẽ nói rất nhiều đấy – Tôi đáp.

– Anh thử nói đi! Cô ta rụt rè đề nghị.

– Cô có nhìn thấy những người kia không? Tôi chỉ tay về phía những đôi tai đang vểnh lên như tai thỏ phía bàn cuối bar rượu- Họ đang giả bộ đắm chìm trong ly rượu, nhưng tai họ như mộc nhĩ, như nấm, khắp mọi nơi.

 

Cô ta cười lanh lảnh. Đám người đó giật mình, những cái tai thỏ lay động.

– Cô thấy dễ chịu không?

– Có, nhưng về cái gì cụ thể…

– Về cảm giác thôi, quán rượu miền sơn cước theo lối thị thành này, về khí hậu, về phong cảnh.

– Tôi vẽ được vài ký họa.

– Cô khiến họ chú ý đấy.

– Đó là việc của họ. Tôi làm gì tôi thích.

– Không biết tôi có thích cô không – Tôi buột miệng,

– Cái gì cơ?

– Tôi không biết.

Cô ta thay đổi nét mặt. Nhưng không biết cô ta khó chịu hay chỉ là một cảm giác bất ngờ.

– Tôi không biết – Tôi nhắc lại.

– Anh biết cái gì? Cô ta cười.

– Tôi biết là tôi lỡ lời.

– Không hề chi. Tôi cũng sẽ lỡ lời nói rằng cái tên của anh là Dần, nghe nó cứ đần đần thế nào ấy.

Cô ta cười lanh lảnh. Những cái tai thỏ hoảng hốt. Tôi nhìn quanh quán rượu nhỏ, thấy tất cả bọn họ đang nhìn chúng tôi. Và tôi không nhịn được cười. Tôi cười sặc sụa và suýt nghẹn thở. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi lại có vẻ đần độn như thế.

– Tôi. Trông tôi đần đần ư?

– Phải. Trông anh giống một bảng màu ngả sang gam màu chết chóc bởi quá nhiều thứ pha trộn khô đét. Anh có thể hỏi anh bạn Thomas Trần xem anh ấy nói gì. Tôi thề đấy.

Thomas Trần đang ở đâu đó với cô gái tên Thơ, không biết anh ta xoay sở ra sao.

Cái quán mà tôivà cô họa sĩ tên Lan đang ngồi đây nhìn ra ngã ba sông. Nước sông Hồng chảy màu vàng vàng, nâu nâu. Nó sẽ chảy về dưới xuôi, nơi mà có lúc nào đó tôi tự hỏi nó từ đâu tới. Nay tôi đang nhìn nó, nhưng nó lại ở tít mãi đâu chạy tới. Ngã ba sông, nơi con sông Nậm Thi hợp vào cùng sông Hồng. Nước sông Nậm Thi trong vắt, mùa này nước cạn, có thể lội sang Trung Quốc được. Hai dòng nước gặp nhau, một trong, một đục, hòa thành dòng sông bên trong bên đục.

Tôi nghe dân địa phương bàn tán ở góc quán rằng đêm hôm qua đội tuần tra biên phòng bắn chết một gã vượt biên trái phép, mang theo một cô gái, hắn buôn gái sang bên đó.

Họ đã bắn chết gã. Điều đó hết sức bình thường.

Chúng tôi cũng có đôi tai thỏ.

Chúng tôi im lặng hình dung ra kẻ xấu số, hắn lãnh trọn băng AK47, thân thể hắn đẫm máu, dẫu các vết đạn chi chít, nhưng hắn cũng phải quằn quại đau đớn trước khi chết, khá lâu.

Hắn không có tên. Mọi người nhanh chóng lãng qu�
�n chuyện này. Tôi cũng đã quên.

– Cô thấy sao? – Tôi hỏi.

– Kinh tởm. Tôi sợ máu. Sợ nghe kể về nó.

– Nó ở trong người cô đó – Tôi định nói thêm nữa nhưng lại thôi. Không có lý do gì để đùa bỡn trong chuyện này.

– Anh có vẻ hay chọc quậy – Cô ta nhận xét.

– Tôi xin lỗi, ờ nếu như không thì nói chuyện quái gì chứ.

– Anh có vẻ tâm trạng, như phim Hàn Quốc, ung thư à?

– Nghe buồn cười quá, tôi có vẻ đần đần thôi.

– Anh nói anh sinh ra ở đây?

– ừ, nhưng khi đó tôi còn bé. Khi chiến tranh Việt Nam – Trung Quốc xảy ra thì tôi bắt đầu đi học. Tôi chỉ nhớ tiếng đạn pháo rít man rợ, tiếng đại bác như tiếng sấm rền, trong mưa phùn. Người chạy như vịt. Tôi ngồi trong hầm chữ A nhai cơm rang, và chờ đợi, chờ đợi mọi chuyện đi qua, như chờ đợi một cơn mưa ủ dột đi qua, và có thể là chờ đợi cô, chính cô.

Tôi không biết kể gì thêm cho cô ta nghe về nơi này nữa. Những câu chuyện vặt vãnh trước năm xảy ra chiến sự, hầu hết do cha mẹ tôi kể lại, những hồi ức vặt vãnh. Hồi đó trường cấp III sơ tán vào Quang Kim, cách thị xã vài chục cây số, nhưng đó là thời chống Mỹ. Chuyện kể rằng hễ báo động là tất cả các loại đạn cao xạ và song ống, kể cả súng ngắn, tất cả vãi đạn lên trời. Sự thực là người ta chưa bao giờ thấy một chiếc máy bay Mỹ nào cả.

Hay chuyện về cây cầu đang ở phía trước mặt tôi kia nữa, bây giờ người ta gọi nó là cầu Cốc Lếu. Cái tên này gợi cho tôi một nỗi sợ hãi mơ hồ, tôi đoán nó có gốc gác từ cáchgọi của người Hán. Lào Cai vốn có tên chữ là Lão Nhai, người Hán đọc là “Lao Cai”. Trên bản đồ hành chính, nó tên là “Lào Cai”.

Có lần tôi nhìn thấy những văn bản in là “Lầu Kay” và “Lào Kay”. Nghe thật ngố.

Ngày trước, cầu Cốc Lếu, người ta còn gọi là cầu Giời ơi. Nghe thật giời ơi đất hỡi.

– Anh có vẻ buồn buồn – Cô ta nói.

– Tôi luôn có vẻ thế này, có vẻ thế nọ – Tôi đáp.

– Bao giờ thì chúng ta đi Sa Pa?

– Ngày mai. “Tomorrow never die”. Ngày mai không bao giờ chết. Nếu, nếu còn có ngày mai. Cô đã xem những thứ đó chưa?

– Có. Nhưng tại sao anh nói vậy?

– Tự nhiên tôi nghĩ đến chúng thôi. Nhưng cũng thử nghĩ xem, có thể chẳng bao giờ đến ngày mai, có nhiều thứ có thể xảy ra chỉ trong một ngày. Và nếu mọi chuyện tốt đẹp, ngày mai chúng ta sẽ đi Sa Pa. Nếu thời tiết tốt đẹp, sức khỏe dồi dào, không bị cướp tiền, và còn điều này nữa, nếu chúng ta còn muốn đi tới đó, nếu chúng ta vẫn còn những ham muốn loại đó. Tóm lại nếu không có gì xảy ra, ngày mai chúng ta sẽ đi tới thị trấn Sa Pa.

– Nghe mong manh dễ sợ ha! – Cô ta thốt lên.

– Phải – Tôi đáp – Có thể sau này cô sẽ nhớ lại tất cả chuyến đi này và sẽ chép miệng: “Chán bỏ xừ!”. Hãy tin tôi đi, cái cảm giác của chúng ta, nó thay đổi như thời tiết ấy mà, mong manh, đồng bóng.

– Anh nói hay quá! Hi hi hi! – Cô ta cười như chuột nhắt. Chuỗi cười của cô ta như làm tươi mới lại một điều gì đó cũ kỹ trong trí nhớ của tôi. Đó là cái gì nhỉ. Tôi vắt trán cố nhớ lại, tôi có một khái niệm gì đó vừa vụt qua.

– Anh làm sao vậy? Cô ta hỏi.

– Không sao – Tôi đáp- Tôi đang cố nhớ lại một cái gì đó. Cô hay cười khi nào?

– Khi vui vẻ.

– Không phải, bây giờ có gì vui vẻ nào? Tôi hỏi là cái kiểu cười vừa rồi, nó vụt qua, vụt qua, và biến mất. Hãy để tôi yên, tôi đang đuổi theo nó.

– Hi hi hi! Hí hí hí! – Cô ta lại cười.

– Và mọi chuyện sáng tỏ. Cái đó chính là tiếng cười của một bé gái. Cô ta có tiếng cười của một cô bé tết hai bím tóc mà bao lâu nay tôi lãng quên. Khu nhà tôi ở bấy lâu vẫn có tiếng cười trẻ con, nhưng tôi không cảm thấy điều gì, nó không đánh thức tôi như cảm giác chóng mặt vừa rồi, như một chiếc phi cơ vụt qua đám mây, xé rách nó, để lại sự luễnh loãng chóng mặt trên tầng cao. Tôi giống như một đám mây mù, và mây mù vốn có một ký ức nhỏ mơ hồ về một thuở xa lắc xa lơ, thuở mà những hạt hơi nước li ti còn nằm trong những cơn sóng dập dềnh của một hồ nước trong xanh nào đó, một con sông hiền hòa nào đó, một ruộng nước ngập mùi bùn, mùi rơm, mùi lúa chín… Nó giống nhưmùi ngai ngái cây dại, mùi cỏ gianh bị nắng thiêu đốt, mùi vỏ quất, mùi rễ lạc, củ lạc mùa thu hoạch, mùi su hào thôi mùa thu hoạch hạt giống…

– Không biết mình có thích cô ta không – Tôi buột miệng.

– Cái gì cơ?

– Tôi không biết.

– Anh biết cái gì?

– Tôi biết là tôi lỡ lời, là ý nghĩ nói thành tiếng như thể tôi nghĩ bằng cổ họng và đôi môi vậy.

– Anh thật kỳ quá ha!

– Sao cô cứ đệm chữ “ha” vào cuối câu vậy?

– Thật thế ha? Thói quen của tôi đó. Thói quen này lây từ cô bạn người Sài Gòn đó.

– Thói quen này hay hay – Tôi nhận xét.

– Anh có thói quen gì?

– Thói quen của tôi là hay tựhỏi: “Mình có thích cô ta hay không?”

– Ngỗ nghĩnh thật. Với bất cứ cô gái nào à?

– Với bất cứ cô nào – Tôi khẳng định.

– Luôn luôn như thế?

– Luôn luôn – Tôi khẳng định.

– Đàn ông đều như thế? Cô ta ngoan cố hỏi.

– Đều như thế – Tôi khẳng định.

– Thế mà tôi cứ tưởng…

– Đừng nói với tôi là cô tưởng tượng như thế nào về đàn ông. Cô hãy cứ giữ lấy nó, tôi chán nghe chuyện đó. Bản thân từ “đàn ông” nghe đã có sự quy kết rồi, như thể từ “bọn chúng”, hoặc giống như là “bọn đàn ông bạc bẽo chúng nó” vậy.

– Chính anh cũng đang quy kết tôi vào một nhóm “đàn bà chúng nó” nào đó của anh – Cô ta phản đối.

Tôi không đáp lại cô ta. Tôi nhìn xuống phía dòng sông của tôi. Tôi nhìn vào những ý nghĩ của tôi. ý nghĩ về sự bất khả. Bất khả tương đồng. Bất cập. Bất nhã. Bất bình. Bất lịch sự. Bất khuất. Bất đồng. Những từ ngữ dồn dập và mọi rợ. Như thể tôi bị điên. Làm thế nào để cô ta thỏa mãn bây giờ. Làm sao để cô ta có thể nhìn vào được ý nghĩ của chính cô ta. Rằng thực ra cô ta biết đàn ông không bao giờ luôn luôn thế này hay thế nọ, mặc dầu họ phân loại và cố gắng tìm hiểu những gì thuộc về thói quen để nó trở nên dễ hiểu hơn, dễ đề phòng hơn. Nhưng có gì để là đề phòng nhỉ? Tôi tự hỏi. Tại sao quan hệ giữa con người luôn ở trạng thái báo động. Tôi đây chẳng hạn, tôi luôn xây những bức tường dối trá quanh tôi trong sự cảnh giác cao độ. Như một bầy sói. Như một lũ chuột. Thật là chó má quá, tôi nhận ra tôi trở nên ti tiện từ khi nào chẳng rõ. Phải là sao đây hỡi cô gái, để tôi và cô có thể như một đôi bạn trẻ thơ. Cô hãy nói cho tôi biết.

– Cô hãy
nói cho tôi biết!

– Anh nói cái gì cơ?

– Cô hãy nói cho tôi biết thực ra cô có mong đợi gì ở mối quen biết mà chúng ta mới thiết lập này?

– Tôi chẳng mong đợi gì.

– Cô nói dối. Cô không hề có trí tưởng tượng sao?

– Thế anh đã tưởng tượng ra những gì?

– Tôi chỉ luôn tự hỏi là tôi đang nghĩ những gì.

– Anh cũng nói dối luôn.

– Thì chúng ta luôn nói dối mà. Tất cả mọi người nói dối. Tất cả mọi người đều biết mình nói dối và đều quên điều đó khi nói.

– Anh thật khùng.

– Tôi thích nghe cô nói như thế. Cô cũng thật khùng.

 

*

 

Đêm đó, tôi không mơ thấy nàng. Tôi ngủ rất ngon giấc, không mộng mị. Nhưng lúc gần về sáng, tôi tỉnh giấc, tôi thấy nước mắt ướt đầm chiếc gối, không hiểu tại sao, tôi nhìn thấy bầu trời sao, như thể tôi nhìn xuyên qua mái nhà vậy, tôi thấy mình ngủ say, thiêm thiếp, trong khi bầu trời đêm đầy sao xung quanh. ở tận cùng biên giới này, bầu trời sao gợi cho tôi cảm giác về cái có giới hạn và cái vô hạn, cảm giác gần như tủi thân và rời rạc, nó lãng đãng như sông Ngân phía trên kia, khi tỏ khi mờ.

Tôi nghe thấy tiếng một con cá quẫy dưới sông. Hình như có một tiếng thở dài nhè nhẹ của con sông chạy dài từ phía thượng nguồn, nó lan tới đây, qua đây, chạy về phía cuối sông, và tan ra ở đó, phía Biển Đông xa vời sóng vỗ.

Giấc ngủ lại đến, nó dìu tôi đi khỏi bầu trời sao và cuốn trôi vào lãng quên.

Có nhiều giấc mơ lãng quên.

Không tìm thấy nàng.

Như một gợn sóng nhỏ tan ra phía Biển Đông, giữa Thái Bình Dương.

Liệu có ai đếm được những gơn sóng như vậy.

Có ai đếm được lá rừng xào xạc trong đêm.

Có ai đếm được sao trời.

Nàng lướt qua phía chân trời. Nàng có những chùm tinh cầu rung rinh trên ngực, quanh cổ, tôi đã tặng nàng chuỗi hạt lung linh màu ánh sáng xanh le lói đó. Những chùm ánh sáng le lói đó. Nụ cười của nàng dìu tôi đi và cuốn trôi vào chốn bất tử nào đó. Tất cả chỉ vì nụ cười của nàng, một lần đã cuốn tôi đi, mang theo sự bình yên nơi tôi.

Có ai biết được nỗi niềm đó chăng?

 

*

 

– Kẻ ngu dốt này sống trên đời đã lâu, tuy không phải bậc thánh nhân, nhưng cũng đã nhìn thấy nhiều việc dâu bể. Nỗi niềm đó của tiên sinh, kẻ này thấu hiểu.

– Ai nói đó?

– Tiên sinh hãy dừng bước! Kẻ này đứng ngay sau tiên sinh đó thôi.

Tôi quay lại và nhìn thấy một thư sinh mặc áo dài trắng, tay cầm chiếc quạt cánh phượng, sau lưng là một tiểu đồng im lặng. Tôi nghĩ ngay đến một nhân vật: “Kim Trọng”!

– Chẳng hay tiên sinh có phải Kim Trọng cách đây…

– Phải – Người đó ngắt lời tôi – Lẽ thường tri âm tri kỷ mới biết nhau. Chẳng phải tri âm thì dẫu tương ngộ bất tương phùng.

– Chúng ta biết nhau ư? – Tôi đổi giọng – Khi nào vậy?

– Điều đó há phải bận lòng? Kẻ ngu dốt này chỉ xin được nói ba lời cùng tiên sinh rồi chúng ta đường ai nấy đi. Có phải tiên sinh mang nỗi niềm sánh như Ngưu Lang – Chức Nữ, hiềm vì sông Ngân cách trở, kẻ này xin bắc cầu ô Thước nếu tiên sinh bằng lòng.

Tôi phì cười trước cách ăn nói đó của anh ta. Tôi vốn không ưa anh ta, một kẻ mờ nhạt và có vẻ bạc nhược. Đến người yêu còn không giữ được, huống chi còn bày đặt chuyện bắc cầu Ô Thước. Muốn sang thì bắc cầu Kiều…

– Kẻ ngu dốt nói đi – Tôi đề nghị.

– Xin tiên sinh ghi nhớ lời này, dẫu rằng khó tin. Quả thật tiên sinh trách tôi là đúng, năm xưa tôi khờ khạo và để mất Thúy Kiều. Tôi không có hạnh phúc với em gái của nàng. Cho đến hôm nay, tôi vẫn đi tìm lại nàng, từ kiếp này sang kiếp khác. Có rất nhiều người đi tìm nàng, mỗi người một đường, cả Từ Hải, cả Sở Khanh, cả những khách làng chơi vô danh. Và hôm nay, có cả tiên sinh nữa.

– Không dám! Tôi đáp.

– Cố mà dám đi! – Anh ta chắp hai tay cúi đầu – Kẻ này xin cáo biệt. Đất trời lồng lộng không biết khi nào tái ngộ. Xin tiên sinh bảo trọng!

Tiểu đồng dắt đến một con ngựa trắng. Anh ta lên ngựa, hai thầy trò khuất dần phía chân trời mù mịt, phía đó chỉ còn là những đụn mây màu trắng đùn lên bầu trời xanh, một bầu trời xanh ngắt.

Họ đã đi rồi, chỉ còn lại mình tôi bơ vơ chốn này. Họ đã đi cả rồi, tất tật, những người thiên cổ, họ đi vào vĩnh hằng, kéo lê sau lưng huyền thoại về chính họ, không khác gìlưu đày, xuyên qua không gian và thời gian.

 

*

 

– Họ đi vòng quanh thế giới sao? Cô ta hỏi.

– Vâng, đúng thế – Tôi đáp.

Lúc đó tôi đang cố gắng đánh tay lái mô-tô theo vòng cua sởn gai ốc của con đường độc đạo Lao Cai – Sa Pa. Chỉ một chút nữa thì tôi và cô ta bay xuống vực, chiếc xe không hiểu vì lý do gì trượt dài theo dốc. Mọi việc xảy ra quá nhanh. Tôi lăn nhiều vòng trên đường nhựa. Tôi còn kịp nhìn thấy chiếc mũ bảo hiểm của cô ta lăn lông lốc phía trước. Chỉ một chút xíu nữa thôi là chúng tôi đã đi theo chân Kim Trọng vòng quanh cõi vĩnh hằng.

– Mũ bảo hiểm của tôi đâu rồi – Tôi hỏi.

Nó vẫn đó thôi – Cô ta chỉ vào đầu tôi.

– Hóa ra nó vẫn đó, chỉ có điều tấm kính cong chắn phía trước vỡ tan tành. Cái đầu tôi nguyên vẹn, nhưng một cơn đau khủng khiếp lan từ chân lên, có vẻ như nó gãy.

– Cô có làm sao không? Tôi nhìn khắp thân mình đầy bụi đất của cô ta. Nó đầy bụi nhưng hình như không sao cả.

– Tôi hơi đau chân – Cô ta nhăn nhó.

Trong lúc đó, chiếc mũ của cô ta vẫn lăn lông lốc ở phía cuối dốc, con dốc này dài hơn 30 km. Cả hai chúng tôi nhìn chiếc mũ lăn, phát ra tiếng lộc cộc, lộc cộc.

– Liệu nó có lăn về chỗ mình xuất phát không nhỉ?

– Cái gì cơ?

– Nó có lăn về Lao Cai không? – Tôi nói.

– ừ nhỉ – Cô ta tiếp – Mình phải đuổi theo nó chứ?

Chiếc mũ vẫn lăn lộc cộc phía xa, nó lăn hết bên này sang bên kia đường không chịu dừng lại

– Mình đuổi theo nó chứ? Cô ta cười cười. Và bỗng dưng tôi không thể nhìn được cười nữa. Cơn đau dồn nén khiến tôi suýt ngất. Tôi cười sằng sặc, như phát điên. Cô ta cũng vậy. Chúng tôi lê ra vệ cỏ ven đường và cứ cười lăn lộn trên đó, cho đến khi họ tới.

Thomas Trần và cô họa sĩ Thơ nhặt được chiếc mũ đó, bởi vì họ đi sau chúng tôi một đoạn. Họ không hiểu chúng tôi đang làm cái gì mà quằn quại cười như thế.

Vào lúc đó, cơn đau như thắt chặt cổ họng tôi, tôi gục xuống thảm cỏ gà và ngửi thấy mùi đất, mùi hơi sương chưa tan. Tôi không cười được nữa. Nhưng hình như cú ngã vừa đem lại cho tôi niềm vui.

Họ xúm lại sờ nắn và hỏi tôi bị làm sao, bị đau ởđâu. Nhưng tôi đau quá, không trả lời được, tôi nhìn thấy máu của tôi trào ra ở đầu gối. Nó ở đấy. Sao họ không biết là ở đấy? Hay họ hy vọng nó ở cái đầu của tôi? Họ lột cái mũ bảo hiểm của tôi ra, xoa khắp đầu tôi, bới tóc rối bù lên.

Nhưng họ là sao biết được trong đầu tôi nghĩ gì.

Họ làm sao biết được.

Họ làm sao.

Làm sao.

Họ.

ý nghĩ tôi bị đứt quãng ở đó.

Hình như có ai đó hôn tôi.

Có ai đó gọi tôi. Tiếng gọi xa lắc xa lơ vọng qua vọng lại trên vách núi. Có phải Thúy Kiều gọi tôi. Hay nàng gọi tôi. Nàng là ai. Và nàng đưa tôi về đâu trong hành trình mờ mịt này.

Tại sao tôi lại ở đây, giữa những người này. Cái gì đã quyến rũ tôi, đưa chân tôi tới nơi đây.

Tại sao?

Ai?

Cái gì?

ở đâu?

Rồi thì sao đó mọi thứ tắt lịm.

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: